69 tuổi, trong khi nhiều người đã lụ khụ ở nhà dưỡng già thì ông vẫn phăm phăm cưỡi xe máy đi hàng trăm cây số mỗi ngày về buôn làng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên để làm từ thiện, dù mình nghèo rớt mùng tơi. Tên thật của ông là Đỗ Văn Toàn, người Kinh, nhưng đồng bào K’Ho, Châu Mạ, Châu Ro, S’Tiêng, Cil, Lạch… đều xem ông như người đồng tộc. Bà con gọi ông là K’Toàn.
Của cho không bằng cách cho
6h sáng. Trời giông gió, mây đen vần vũ. Chằng bốn bao tải đựng đầy quần áo, giày dép, sách bút… lên yên hai chiếc xe máy, chúng tôi băng 47km đường rừng vào buôn Đạ Nua - xã Lộc Lâm - huyện Bảo Lâm - tỉnh Lâm Đồng. Đường toàn đất bazan đỏ au, không quanh co liên hồi kỳ trận thì cũng bụi mù, xóc nảy, thế mà K’Toàn cứ phóng xe như bay làm tôi đuổi mướt mồ hôi vẫn không kịp. Thật nể cho sức vóc của ông lão; mới hôm qua, rong ruổi hơn 200km đi Hàm Thuận Bắc (Bình Thuận) từ 6h sáng, về giữa đường xe lại hỏng, phải dắt bộ suốt 5km đường rừng lầy lội trong mưa nên mãi hơn 10h đêm mới về đến nhà; bải hoải, rã rời, ấy vậy mà chỉ cần nghe tôi bảo muốn đi đồng bào là đã xăng xái lên đường. “Cứ nói đến chuyện vào buôn là tôi thấy người khỏe re. Xa mấy cũng đi được” - ông cười rổn rảng trấn an tôi.
Trèo đèo lội suối gần hai tiếng đồng hồ, chúng tôi mới vào đến điểm hẹn. Đạ Nua là buôn cuối cùng của xã vùng sâu vùng xa Lộc Lâm. Đồng bào dân tộc K’Ho nơi đây kiếm kế sinh nhai trên những thửa ruộng, mảnh vườn ít ỏi và những sản vật rừng mỗi ngày một khan hiếm nên đời sống rất khó khăn. Tụi trẻ lem luốc với những bộ quần áo bợt cả sợi vải, rách tứ tung, vá chằng vá đụp… đang ngồi bệt xuống những khoảnh sân đất trước nhà đùa nghịch chí chóe hay nặn đất, vê bùn. Từng tốp phụ nữ thì túm năm tụm ba tán chuyện rầm rì. Đám đàn ông, nhất là thanh niên trai tráng, thì tụ bạ ở mấy hiệu tạp hóa kiêm quán ăn sơ sài nằm ngay bên trục độc đạo lổn nhổn đá hộc và đất đỏ bazan mà nâng lên đặt xuống hết chén này đến chén khác suốt cả buổi dù thức nhắm chỉ là vài con cá khô, tô mì tôm, gói đậu phộng…
Hai chiếc xe máy lạ vừa rằn đá nảy tưng tưng vào đến đầu buôn, những tiếng ồ à, í ới đã rộn khắp nơi: “Ô, K’Toàn”, “K’Toàn về bà con ơi”… Chục phút sau, đàn ông, đàn bà, người già, trẻ con khắp buôn đã kéo về đứng ngồi lố nhố khắp trong nhà, ngoài sân nhà K’Hạnh nằm đối diện trạm Y tế. Chẳng kịp uống cho xong chén nước, chúng tôi đổ hết bốn bao tải quần áo, giày dép, sách, vở, bút, bánh kẹo, thuốc men, bột giặt… ra chiếc chiếu giữa nhà. Giũ tấm áo, manh quần, nhìn khắp lượt khuôn mặt, vóc dáng của những người xung quanh rồi ông Toàn ân cần: “Này, K’Lu, áo này vừa đấy”, “Ka Mây thử cái quần này đi”, “Ka Bung uống nốt liều thuốc này là hết đau đầu ngay”, “Vở, bút đây, K’Lim mang về đi học nhé”… để lĩnh xướng những tràng cười rộ lên vui vẻ của mọi người. Gần một giờ sau, đống đồ sạch bách, nghe bà con xuýt xoa, hể hả: “Ôi, nghiêm (đẹp, vừa)”, “Áo này ấm lắm”, “Quần thích quá”, “Kẹo ngọt thế” v.v., ông Toàn kéo vạt áo lau vội khuôn mặt, vầng trán đầm đìa mồ hôi, ngồi duỗi chân duỗi tay thở hổn hển trong nụ cười mãn nguyện.
Đừng chờ giàu mới làm từ thiện
Năm 1954, Đỗ Văn Toàn theo gia đình rời Kim Sơn - Ninh Bình vào Bảo Lộc - Lâm Đồng xây dựng vùng kinh tế mới để rồi như có duyên tiền định, con mèo rừng này gắn bó trọn đời với đại ngàn Tây Nguyên thâm u, kỳ bí và đầy mê hoặc.
Từ nhỏ, Toàn đã mang trong mình hai nửa tâm hồn trái ngược đến xung đột. Ai nghĩ được rằng cậu bé nghịch như quỷ ấy lại luôn để ý đến những vân vi của đời sống, lại luôn động lòng trắc ẩn trước những cảnh đời, phận người. Năm học lớp 6, thấy những bạn bè người dân tộc Châu Mạ luôn xanh rớt vì đói, áo quần mặc đến trường thì vá víu chằng chịt hoặc mỏng manh tê tái, Toàn thấy lòng quặn đau như chính mình đói rét. Tan học, cậu thường theo chân đám bạn nghèo ấy về buôn Con Hiên Đạ để làm bẫy chuột, làm ná bắn chim, đi hái rau rừng… Tận mắt chứng kiến cuộc sống thiếu cơm ăn áo mặc của đồng bào, nước mắt cứ rịn ra trên khuôn mặt láu lỉnh của Toàn. Cậu quyết định phải góp sức nhỏ bé của mình để giúp đỡ đồng bào. Tối tối, chờ cả nhà ngủ say, Toàn rón rén vào buồng lấy gạo, muối, cá khô, đậu phộng… trút vào những chiếc túi vải, gói ghém cẩn thận rồi dấu trong cặp sách. Ngày hôm sau, học xong, cậu theo chân các bạn về buôn rồi phân phát chiến lợi phẩm cho những nhà nghèo. Cứ tuần tự đêm về lấy của nhà, ngày mang ra chia sẻ như thế, số thực phẩm của Toàn tuy ít ỏi nhưng cũng đỡ được đôi phần cơn đói gạo, thèm muối… của nhiều gia đình nơi đây. Có điều, khi mang đồ ăn thức uống của nhà đi chia cho đồng bào, cậu vui bao nhiêu thì lúc về nhà lại thót tim bấy nhiêu. Mẹ thấy ché gạo, hũ muối, bịch cá khô… vơi nhanh đến lạ lùng nên cứ mặt ủ mày rầu. Thương lắm, nhưng mỗi khi mẹ hỏi, Toàn đều tỉnh queo, lặng thinh hoặc giả đò giả tảng đi lùng sục xem có con mèo, con chuột nào đào tường khoét vách, đột nhập vào buồng phá phách hay không…
Trái tim nhân hậu của Đỗ Văn Toàn không một phút nào ngơi nghĩ đến những người nghèo khổ quanh mình để bằng cách này hay cách khác, tìm cách giúp đỡ họ. Đó là một phần cuộc sống của con người dường như sinh ra để làm từ thiện này. Ước mơ lớn nhất của ông là cầu mong bề trên cho mình được mạnh khỏe, làm ăn tấn tới để có nhiều điều kiện vật chất để giúp đỡ người nghèo. Nhưng, làm đủ nghề từ làm vườn, nuôi heo, trồng cà phê đến hái chè, thợ điện v.v. mà ông Toàn cũng chỉ đủ tiền trang trải cuộc sống gia đình với mẹ già, vợ yếu cùng 5 đứa con thơ dại chứ chưa một lần được có cảm giác của một người dư dả. Đừng đợi giàu mới đi làm từ thiện. Ngộ ra điều ấy nên từ năm 1977, ông Toàn gắn thêm một nghề vào cuộc đời vốn dĩ đã không nề hà bất cứ nghề gì của mình, ấy là nghề từ thiện.
Ngày ấy, huyện Bảo Lộc phát động phong trào định canh, định cư trong vùng đồng bào dân tộc. Biết ông Toàn hay ăn dầm ở dề trong những cánh rừng thẳm để hái thuốc, lặn lội vào các buôn làng để sưu tầm và nghiên cứu văn hóa, ông Lâm Hồng Sơn (K’Sen) - Phó chủ tịch UBND huyện Bảo Lộc - đến rủ rỉ: “Ông có tài tổ chức, có uy tín với đồng bào nên huyện nhờ ông đi thuyết phục bà con định canh định cư nhé”. Được lời như cởi tấm lòng, ông Toàn hăng hái ăn cơm nhà gánh chuyện người dưng. Lấy xã Lộc Lâm anh hùng làm điểm, ông khăn gói gió đưa, lặn lội vào từng căn chòi, lán, lều của đồng bào nơi nương rẫy mù xa, ân cần hỏi han chuyện hạt gạo, hạt muối, cái khố… của họ. Nghe người già than vãn rằng con nai, con hoẵng, đọt mây, măng giang… giờ khó kiếm quá, ông thủ thỉ: mình đốt rừng nhiều quá nên hết đất cho con thú ở, cho cây rau mọc, rồi con suối cũng cạn nước, con cá, con tôm cũng chết mất thôi. Đốt rừng làm rẫy mãi mà vẫn không đủ ăn; bà con xuống thung lũng lập làng đi, tôi mang cây lúa, cây rau, con bò, con lợn… về cho. Xuống làng ở vừa vui vừa no cái bụng. Gặp người nào ông cũng ân cần như thế nên chẳng mất chốc, người nọ chuyền tai người kia, đồng bào dần ưng cái bụng với chủ trương lập làng, định canh định cư mà Đảng và Nhà nước kêu gọi. Được dân tin, bỏ rừng về làng rồi, ông Toàn lại bảo K’Sen cho xây dựng những ngôi nhà tiêu biểu: có nhà cao cho bà con ở, có vườn trồng cây, có chuồng nuôi trâu, bò, lợn, gà. Dần dà, bà con các dân tộc Châu Mạ, K'Ho, Chu Ru… thuộc 11 buôn: Kơi Đạ, B’Ru, B’Riêng, R’Năng, R’Nua, B’Đạ, Kời Đăng, Sa Voa, Rín Đạ, Xavadăn, Tanca đã về quây tụ bên dòng suối Đạ Cơi để “trồng cây có phân, chăn nuôi có chuồng”. Về nhà, ông dẹp những dò lan, chậu thiên tuế, vạn tuế… sang một góp vườn để dành đất ươm cây cà phê, chè, mít, bơ…; bỏ tiền đi mua những hạt rau muống, rau cải, xúp lơ… gói ghém cẩn thận, chờ có số lượng kha khá là lại kỳ công mang vào buôn chia cho từng nhà và dạy họ cách trồng, chăm bón. Từ đận ấy, bà con toàn xã Lộc Lâm trọng K’Toàn như già làng…
Hiểu rằng của cho không bằng cách cho nên suốt 32 năm qua, sau những ngày bươn bả mưu sinh, thứ bảy, chủ nhật hàng tuần, Đỗ Văn Toàn lại đều đặn lặn lội vào buôn từ 6h sáng đến 9-10h đêm để thăm và tặng quà đồng bào dân tộc.
Ban đầu bằng xe đạp cọc cạch, đến chiếc Honda Dame, chiếc xe máy cổ lỗ sĩ Yamaha Town Mate và nay là chiếc môtô Rabel 250 kềnh càng, ông mải miết và hứng thú len lỏi đến các buôn vùng sâu vùng xa: Tân Rai, Đăk Cháy, Đam Ron, Lát, Bà Đạ, Xây Xàng v.v. khắp vùng Nam Tây Nguyên bát ngát. Hành trang cho riêng mình trong mỗi chuyến đi chỉ là dăm ba cái bánh lá, bánh mỳ, chai nước treo toòng teng phía trước xe để ăn dọc đường. Nhưng những thứ ông mang tặng đồng bào dân tộc thì thật lỉnh kỉnh: bánh kẹo, quần áo, lịch, đồng hồ, thuốc men, sách, bút... “Với nhiều người, chúng là đồ rẻ mạt, thứ bỏ đi nhưng đối với đồng bào nghèo thì rất quý. Mình trao tận tay họ càng quý hơn. Giống như đang cơn khát giữa rừng bỗng tìm được nguồn nước” - ông bảo.
Cho tôi xin đồ cũ
Đến làm thuê cho nhà ai, ông Toàn cũng tỉ tê xin đồ cũ. Có tiền công, ông trích một phần ra những hàng bán quần áo cũ ở chợ Bảo Lộc nhặt nhạnh mỗi thứ mỗi tí. Bạn bè, người thân thì thường xuyên nhận được những cuộc điện thoại của ông; sau những lời hỏi han ân cần, những câu chuyện đầm ấm là đến lời nhắn quen thuộc: “Nhà có đồ cũ, nhớ gọi tôi nhé!”. Tất cả những thứ người ta không dùng đến ấy, được ông nhặt nhạnh, mang về tập kết đầy nhà. Quần, áo, tất, khăn được ông giặt sạch, phơi khô rồi cuộn tròn như gói bánh tét, xếp gọn gàng vào những thùng carton; tranh, lịch, sách, vở, bút, bấm móng tay, gương, lược… thì dồn vào từng bao tải dựng ngay ngắn nơi góc phải cửa ra vào mà chờ dịp về buôn.
Lần nào cũng vậy, chuẩn bị cho mỗi chuyến đi tặng quà đồng bào, trong ông vẫn vẹn nguyên cảm giác lâng lâng. Vừa đóng hàng, ông vừa lẩm nhẩm: “Trái bóng này dành cho K’Diễm ở buôn Đăng Đừng”, “Ka Vân ở buôn Đạ Nua hỏi xin mãi mà bây giờ mình mới tìm được cái áo dài này cho cháu ra học trường huyện”, “Kră Jãn Tẹ ở xã Lát chắc thích đôi giày này lắm đây”… Vào buôn, phân phát quà cho từng người xong, ông lại tỷ mẩn cắt móng chân, móng tay cho những cụ già, trẻ nhỏ, đưa thang thuốc chữa băng huyết cho Ka Voal ở buôn Đạ Nua, thăm con gái K’Lu ở xóm Lộc Sơn - bệnh nhân bị rắn hổ cắn mà ông vừa chữa khỏi tuần trước, như cả trăm người bị rắn độc cắn đã bị bệnh viện trả về nhưng lại được K’Toàn cứu sống… Ông giảng giải: “Đối với đồng bào, quan trọng nhất là mình phải giữ chữ tín. Họ cần gì, lần sau mình vào phải có, đôi khi chỉ một tấm áo, đôi dép… nhưng hứa mà không có là bà con buồn, không tin nữa”. Chả thế mà có lần ông chia hết quà cho bà con trong buôn rồi, một phụ nữ mặc bộ quần áo tơ tướp mới tất tưởi bế con đến, xin đôi dép để đi cho ấm chân. Đồ đạc mang theo không còn thứ gì, nhưng không muốn làm chị thất vọng, ông không ngần ngại cởi chiếc áo ngoài, tuột ngay đôi dép mình đang đi mà tặng chị còn mình thì áo may ô, chân đất đầu trần đi về…
32 năm ròng, ai đếm được bao nhiêu thứ đồ, bao nhiêu tiền bạc, bao nhiêu kỳ công, tâm huyết của ông Toàn để lặng lẽ đổi lấy niềm vui nở trên khuôn mặt khắc khổ của những đồng bào nghèo.
Dày công và vô tư xây dựng niềm tin, trao tặng nụ cười ở khắp những nơi chốn đi qua như thế nên đến đâu, ông Toàn cũng được đồng bào quấn quýt, mừng rỡ như đón người thân lâu ngày gặp lại. Cả đời đằm mình trong buôn làng nên hồn cốt núi rừng, tộc người đã ngấm vào từng thớ thịt săn chắc trong ông; đến độ mà khi đóng vai già làng trong các bộ phim: Sương gió biên thùy, Trùng Quang tâm sử, Ngọn nến Hoàng cung, Thử thách xanh... các đạo diễn đều tấm tắc: cảnh của ông Toàn chưa phải quay lại bao giờ, ông vào vai ngọt hơn diễn viên chuyên nghiệp và vai diễn sống hơn cả người đồng bào.
…Chủ nhật tuần trước, dẫn tôi đi tặng quà đồng bào nghèo ở buôn Đạ Nua, đêm, tôi về đến TP.HCM cũng là lúc ông Toàn lên xe cấp cứu xuống bệnh viện Bình Dân để mổ sỏi bàng quang. Suốt mấy ngày nằm viện không người thân thích ở thành phố mà ông không ới tôi một tiếng vì “ngại làm phiền anh”. Ấy thế mà, về nhà nằm dưỡng bệnh mới được 2 ngày, ông đã điện thoại cho tôi thông báo rằng sức khỏe ổn rồi, kêu nhớ đồng bào quá và giục tôi gom ít đồ cũ rồi lên nhanh để ông đưa vào buôn. Ôi, K’Toàn, sức vóc và hồn cốt Tây Nguyên thấm đẫm trong người ông rồi!
Thứ Sáu, 20 tháng 2, 2009
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)