Chủ Nhật, 8 tháng 8, 2010
Ngôi nhà xưa bên suối
Ngồi đếm giọt cà phê nhỏ tí tách xuống cái tách gốm đặt trên mặt bàn ở nhà hàng nằm bên bến đá cây Tung (VQG Cát Tiên), nghe tiếng suối reo, thao thiết nhớ ngôi nhà xưa bên suối ở Tân Lạc, Hòa Bình. Bao giờ lại được về ngủ trong cái chòi canh nương mà nghe thác đổ, mắt dõi theo những ánh đom đóm lập lòe!...
Thứ Hai, 5 tháng 7, 2010
Ta là một, là riêng, là...
Buổi giao lưu với Eran Katz, người đang giữ kỷ lục Guinness về khả năng nhớ được một dãy 500 chữ số chỉ sau một lần nghe, lẫn trong rất nhiều lời trầm trồ thán phục của đông đảo công chúng thuộc nhiều thành phần, lứa tuổi về người có trí nhớ siêu phàm, vẫn có những hành động khinh khi.
Sau khi chứng kiến người đàn ông Do Thái trổ tài chỉ nghe một lần rồi đọc lại tất cả những dãy số mà khán giả yêu cầu, một bác đứng tuổi ngồi ngay hàng ghế đầu hùng dũng giơ tay, đứng phắt dậy. Mặt đằng đằng sát khí, chưa để cho nụ cười ruồi tắt hẳn, bác đã gằn từng tiếng rằng trí nhớ của ông thế thì có gì ghê gớm đâu. Nhà bác học Lê Quý Đôn của chúng tôi sống ở thế kỷ XVIII mới gọi là có trí nhớ siêu phàm. Bởi có bận ông từng đọc qua tấm bia đá một lần rồi đọc ngược lại không sai một chữ.
Hình như bác nhầm thì phải, giai thoại về trí nhớ của Lê Quý Đôn là chuyện này:
Một buổi trưa nắng, lũy tre xanh xạc xào trong gió. Bên dòng sông xanh biếc, có một quán nhỏ nằm dưới gốc đa, chủ nhân là một bà lão đang ngồi bỏm bẻm nhai trầu. Khách là một thư sinh ngoài hai mươi tuổi, có lẽ từ xa đến. Bước vào quán, trong khi đợi cơm, chàng với tay lấy quyển sổ đang treo trên vách xuống xem. Thì ra đó là quyển sổ ghi nợ. Khách vừa đọc xong cũng là lúc cơm được dọn lên. Ăn xong, chàng đi ngay. Buổi chiều, quay về đường cũ, chàng thấy quán đã cháy rụi. Bà lão bán quán đang ngồi khóc tỉ ti, khách tới an ủi, thì bà mếu máo nói:
- Quyển sổ nợ cháy mất rồi. Giờ tôi chả còn nhớ ai nợ bao nhiêu mà đòi nữa!
Khách cười rồi điềm tĩnh lấy giấy bút trong tay nải ra biên lại tên từng người, từng món nợ, trao cho bà lão đáng thương rồi tiếp tục hành trình rong ruổi. Bà lão nửa tin nửa ngờ đi đòi thì quả nhiên không sai, không sót một ai.
Người khách lạ đó chính là thần đồng Lê Quý Đôn, sinh năm 1726, người làng Phú Hiếu, huyện Diên Hà (nay thuộc xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình), con trai của tiến sĩ Lê Phú Thứ. Cậu bế nổi tiếng thần đồng, 2 tuổi đã biết viết chữ “hữu” (có) và chữ “vô” (không), 5 tuổi đã đọc được nhiều bài trong Kinh Thi, 11 tuổi đọc Kinh Dịch, 14 tuổi thì đọc hết Tứ Thư, Ngũ Kinh… Điều đáng nhớ và học tập ở ông là một sức làm việc không mệt mỏi, ông đã “học, học nữa, học mãi” để trở thành nhà bác học lẫy lừng ở thế kỷ XVIII. Trong sách Kiến văn tiểu lục, ông viết: “Tôi vốn là người nông cạn, lúc còn bé thích chứa sách, lúc trưởng thành ra làm quan, xem lại sách đã chứa trong tủ, vâng theo lời dạy của cha, lại được giao du nhiều với các bậc hiền sĩ đại phu… Thêm vào đấy, phụng mệnh làm việc công, bốn phương rong ruổi: mặt bắc đi sang sứ Trung Quốc, mặt tây bình định Trấn Ninh, mặt nam trấn thủ Thuận Quảng (Thuận Hóa - Quảng Nam). Đi tới đâu cũng để ý tìm tòi, làm việc gì mắt thấy tai nghe cũng đều dùng bút ghi chép, lại phụ thêm lời bình luận sơ qua, giao cho tiểu đồng đựng vào túi sách...”.
Eran Katz tiết lộ bí quyết gợi sự liên tưởng để rèn luyện trí nhớ, chẳng hạn cái máy cắt cỏ kêu những tiếng gằn gằn lúc hoạt động, gợi ý cho ta từ green (màu xanh), cỏ đang được cắt cũng là màu xanh, thế nên nghe tiếng gằn của máy cắt cỏ là ta nhớ ngay đến màu xanh, đến cỏ, đến máy cắt cỏ… Trong khi cả hội trường vang lên những tràng pháo tay và tiếng cười thú vị về kiểu vừa học tiếng Anh vừa rèn trí nhớ độc đáo ấy, bác già lúc nãy lại đứng phắt lên bắt bẻ. Bác bảo Eran Katz rằng ông nói tiếng Anh là ngôn ngữ quốc tế và khuyến cáo mọi người cần thông thạo là không đúng, vị trí ấy là của tiếng Hoa; và rằng, phương pháp liên tưởng của ông chỉ đúng trong tiếng Anh, ông có cách gì áp dụng cho tiếng Việt? Eran Katz phì cười đáp: cả đời tôi nói tiếng Anh nên tôi chỉ nghĩ ra cách áp dụng với tiếng Anh thôi…
Cũng may là đông đảo chủ, khách của buổi giao lưu không ai bận tâm cật vấn bác già chuyện đúng sai của giai thoại mà bác dẫn nhằm hạ bệ vị khách lạ đến từ Israel. Cũng may là người của ban tổ chức đã nhanh trí tuyên bố rằng đây chỉ là một trong những cách rèn luyện trí nhớ và Eran Katz cũng rất nhã nhặn nói rằng tôi sang đây để giao lưu, giới thiệu cuốn sách rèn luyện trí nhớ theo kinh nghiệm bản thân chứ không khẳng định chỉ có cách của tôi mới ưu việt… Ấy thế mà suốt buổi giao lưu, bác già và mấy người bạn của mình cũng vẫn cứ hậm hà hậm hực.
Thật khổ thân cho cái tâm lý thích bắt bẻ của bác già. Cứ cho là trong mắt bác chỉ có cụ Lê Quý Đôn mới xứng đáng gọi là có trí nhớ thiên tài, nhưng cụ đã mất từ năm 1783 rồi, giờ có muốn bác cũng chẳng gặp được. Trong khi ấy, trước mặt bác là một người bằng xương bằng thịt, đã được sách kỷ lục Guinness công nhận, sách hướng dẫn rèn luyện trí nhớ của ông đã được dịch ra 10 thứ tiếng và bán chạy nhất thế giới, với cả triệu bản. Và cũng chẳng phải dễ dàng gì, ban tổ chức mới mời được ông ấy cất công sang Việt Nam giao lưu với độc giả nhân dịp hai cuốn sách: Bí mật của một trí nhớ siêu phàm và Trí tuệ Do Thái được xuất bản bằng tiếng Việt. Sao bác không hồ hởi sờ nắn vào người ông, hỏi bí quyết rèn luyện trí nhớ để tập luyện đặng ôm mộng vượt mặt ông ấy mà cứ nhăm nhăm hạ bệ bằng việc mang cái người từ thuở nảo thuở nào ra mà hù dọa.
Đâu phải riêng bác già kể trên, hình như rất nhiều người dân Việt Nam mình có cái tâm lý tự đóng cửa cõi lòng như thế.
Đi du lịch là để khám phá cảnh khác người lạ vậy mà đến đâu cũng soi mói, rồi tặc lưỡi: “Thường thôi, có gì ghê gớm đâu”. Đến bữa thì chả dám thử món gì lạ, lại ăn uống những thứ quen thuộc hàng ngày. Người thử rồi thì chê ỏng chê eo, món này gì mà ngọt thế, món kia sao mà cay vậy, phí cả tiền. Thế nên thay vì mê say đi tìm điều hay, kết bạn với những người thú vị, các ông bà biết rồi nhà ta chỉ túm tụm nhậu nhẹt, bài bạc, ôn nghèo kể khổ, thương nhớ đồng quê. Kết quả của những chuyến du lịch ấy chỉ là ít đồ sấp ngửa sắm được, xấp ảnh đứng chường mặt trước danh lam thắng cảnh, di tích, xòng bạc… ở xứ người kiểu “Lão Tôn đã từng đến đây”. Đấy, cứ thế thì cả đời cũng chỉ biết có mỗi cái ngưỡng cửa nhà mình. Tích tiểu thành đại, mỗi ngày cứ co rúm mình vào một tí như thế thì trách sao không tụt hậu!
Có một chuyện nhỏ diễn ra đã dăm năm rồi nhưng vẫn làm tôi mỉm cười mỗi khi nhớ lại. Lần ấy, một người bạn tôi từ Pháp sang. Theo bản năng, đến bữa, tôi dẫn anh tới một nhà hàng Pháp thuộc loại sang ở TPHCM. Tưởng anh sẽ vui lắm khi có một người bạn Việt Nam chiều chuộng mình, đến một nơi xa lạ mà vẫn được sống trong không khí quê nhà. Ai dè, anh chối đây đẩy rồi nằng nặc đòi tôi dẫn đến một quán vỉa hè. Và chúng tôi đã ngồi bên hồ Con Rùa uống bia Sài Gòn xanh, ăn bò bía và tán chuyện hăng say về vùng đất của tôi. Anh bảo đó mới là điều thích thú, “chứ sang đây mà vẫn ăn đồ Pháp, nói chuyện nước Pháp thì tôi ở nhà cho xong”.
Nói chuyện ăn uống thì lại nhớ đến anh Khúc Duy Tiến, người đã dạy tôi kiểu ẩm thực "địa phương tính". Bảy năm trước, vợ chồng anh ra Hà Nội hưởng tuần trăng mật, tôi đưa hai người lên quán Phương Uyên uống bia và ngắm sóng hồ Tây. Vào bàn, vừa thấy tôi gọi bia Heineken, anh giãy nảy: “uống bia Hà Nội chứ, ra đây mà uống "Ken" thì tao ở Đà Nẵng cho xong”. Rồi vừa nhâm nhi cốc bia, anh vừa rủ rỉ: "Đi đâu thì nên uống bia đấy, ăn đồ ăn ở đấy cho biết hương vị". Tôi theo gu ẩm thực của anh từ đận ấy…
Người đi ra khỏi cổng làng được một bước thì về cái gì cũng so sánh, dè bỉu rằng quê mình là hủ lậu, chỉ có thiên hạ mới hay, mới đẹp. Người thì chả coi ai ra gì, chỉ có ta là nhất quả đất. Trường hợp đầu, mà các cụ nhạo là “c. Tây cũng vuông” thì cả đời đuổi hình bắt bóng của thiên hạ. Trường hợp sau, kiểu ta là đỉnh cao muôn trượng, thì mạt kiếp đứng yên một chỗ chả biết thiên hạ lên hành tinh khác từ đời nảo đời nào. Thế phải làm sao? Biết mình biết người, cổ nhân chả vẫn bảo thế là gì.
Sau khi chứng kiến người đàn ông Do Thái trổ tài chỉ nghe một lần rồi đọc lại tất cả những dãy số mà khán giả yêu cầu, một bác đứng tuổi ngồi ngay hàng ghế đầu hùng dũng giơ tay, đứng phắt dậy. Mặt đằng đằng sát khí, chưa để cho nụ cười ruồi tắt hẳn, bác đã gằn từng tiếng rằng trí nhớ của ông thế thì có gì ghê gớm đâu. Nhà bác học Lê Quý Đôn của chúng tôi sống ở thế kỷ XVIII mới gọi là có trí nhớ siêu phàm. Bởi có bận ông từng đọc qua tấm bia đá một lần rồi đọc ngược lại không sai một chữ.
Hình như bác nhầm thì phải, giai thoại về trí nhớ của Lê Quý Đôn là chuyện này:
Một buổi trưa nắng, lũy tre xanh xạc xào trong gió. Bên dòng sông xanh biếc, có một quán nhỏ nằm dưới gốc đa, chủ nhân là một bà lão đang ngồi bỏm bẻm nhai trầu. Khách là một thư sinh ngoài hai mươi tuổi, có lẽ từ xa đến. Bước vào quán, trong khi đợi cơm, chàng với tay lấy quyển sổ đang treo trên vách xuống xem. Thì ra đó là quyển sổ ghi nợ. Khách vừa đọc xong cũng là lúc cơm được dọn lên. Ăn xong, chàng đi ngay. Buổi chiều, quay về đường cũ, chàng thấy quán đã cháy rụi. Bà lão bán quán đang ngồi khóc tỉ ti, khách tới an ủi, thì bà mếu máo nói:
- Quyển sổ nợ cháy mất rồi. Giờ tôi chả còn nhớ ai nợ bao nhiêu mà đòi nữa!
Khách cười rồi điềm tĩnh lấy giấy bút trong tay nải ra biên lại tên từng người, từng món nợ, trao cho bà lão đáng thương rồi tiếp tục hành trình rong ruổi. Bà lão nửa tin nửa ngờ đi đòi thì quả nhiên không sai, không sót một ai.
Người khách lạ đó chính là thần đồng Lê Quý Đôn, sinh năm 1726, người làng Phú Hiếu, huyện Diên Hà (nay thuộc xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình), con trai của tiến sĩ Lê Phú Thứ. Cậu bế nổi tiếng thần đồng, 2 tuổi đã biết viết chữ “hữu” (có) và chữ “vô” (không), 5 tuổi đã đọc được nhiều bài trong Kinh Thi, 11 tuổi đọc Kinh Dịch, 14 tuổi thì đọc hết Tứ Thư, Ngũ Kinh… Điều đáng nhớ và học tập ở ông là một sức làm việc không mệt mỏi, ông đã “học, học nữa, học mãi” để trở thành nhà bác học lẫy lừng ở thế kỷ XVIII. Trong sách Kiến văn tiểu lục, ông viết: “Tôi vốn là người nông cạn, lúc còn bé thích chứa sách, lúc trưởng thành ra làm quan, xem lại sách đã chứa trong tủ, vâng theo lời dạy của cha, lại được giao du nhiều với các bậc hiền sĩ đại phu… Thêm vào đấy, phụng mệnh làm việc công, bốn phương rong ruổi: mặt bắc đi sang sứ Trung Quốc, mặt tây bình định Trấn Ninh, mặt nam trấn thủ Thuận Quảng (Thuận Hóa - Quảng Nam). Đi tới đâu cũng để ý tìm tòi, làm việc gì mắt thấy tai nghe cũng đều dùng bút ghi chép, lại phụ thêm lời bình luận sơ qua, giao cho tiểu đồng đựng vào túi sách...”.
Eran Katz tiết lộ bí quyết gợi sự liên tưởng để rèn luyện trí nhớ, chẳng hạn cái máy cắt cỏ kêu những tiếng gằn gằn lúc hoạt động, gợi ý cho ta từ green (màu xanh), cỏ đang được cắt cũng là màu xanh, thế nên nghe tiếng gằn của máy cắt cỏ là ta nhớ ngay đến màu xanh, đến cỏ, đến máy cắt cỏ… Trong khi cả hội trường vang lên những tràng pháo tay và tiếng cười thú vị về kiểu vừa học tiếng Anh vừa rèn trí nhớ độc đáo ấy, bác già lúc nãy lại đứng phắt lên bắt bẻ. Bác bảo Eran Katz rằng ông nói tiếng Anh là ngôn ngữ quốc tế và khuyến cáo mọi người cần thông thạo là không đúng, vị trí ấy là của tiếng Hoa; và rằng, phương pháp liên tưởng của ông chỉ đúng trong tiếng Anh, ông có cách gì áp dụng cho tiếng Việt? Eran Katz phì cười đáp: cả đời tôi nói tiếng Anh nên tôi chỉ nghĩ ra cách áp dụng với tiếng Anh thôi…
Cũng may là đông đảo chủ, khách của buổi giao lưu không ai bận tâm cật vấn bác già chuyện đúng sai của giai thoại mà bác dẫn nhằm hạ bệ vị khách lạ đến từ Israel. Cũng may là người của ban tổ chức đã nhanh trí tuyên bố rằng đây chỉ là một trong những cách rèn luyện trí nhớ và Eran Katz cũng rất nhã nhặn nói rằng tôi sang đây để giao lưu, giới thiệu cuốn sách rèn luyện trí nhớ theo kinh nghiệm bản thân chứ không khẳng định chỉ có cách của tôi mới ưu việt… Ấy thế mà suốt buổi giao lưu, bác già và mấy người bạn của mình cũng vẫn cứ hậm hà hậm hực.
Thật khổ thân cho cái tâm lý thích bắt bẻ của bác già. Cứ cho là trong mắt bác chỉ có cụ Lê Quý Đôn mới xứng đáng gọi là có trí nhớ thiên tài, nhưng cụ đã mất từ năm 1783 rồi, giờ có muốn bác cũng chẳng gặp được. Trong khi ấy, trước mặt bác là một người bằng xương bằng thịt, đã được sách kỷ lục Guinness công nhận, sách hướng dẫn rèn luyện trí nhớ của ông đã được dịch ra 10 thứ tiếng và bán chạy nhất thế giới, với cả triệu bản. Và cũng chẳng phải dễ dàng gì, ban tổ chức mới mời được ông ấy cất công sang Việt Nam giao lưu với độc giả nhân dịp hai cuốn sách: Bí mật của một trí nhớ siêu phàm và Trí tuệ Do Thái được xuất bản bằng tiếng Việt. Sao bác không hồ hởi sờ nắn vào người ông, hỏi bí quyết rèn luyện trí nhớ để tập luyện đặng ôm mộng vượt mặt ông ấy mà cứ nhăm nhăm hạ bệ bằng việc mang cái người từ thuở nảo thuở nào ra mà hù dọa.
Đâu phải riêng bác già kể trên, hình như rất nhiều người dân Việt Nam mình có cái tâm lý tự đóng cửa cõi lòng như thế.
Đi du lịch là để khám phá cảnh khác người lạ vậy mà đến đâu cũng soi mói, rồi tặc lưỡi: “Thường thôi, có gì ghê gớm đâu”. Đến bữa thì chả dám thử món gì lạ, lại ăn uống những thứ quen thuộc hàng ngày. Người thử rồi thì chê ỏng chê eo, món này gì mà ngọt thế, món kia sao mà cay vậy, phí cả tiền. Thế nên thay vì mê say đi tìm điều hay, kết bạn với những người thú vị, các ông bà biết rồi nhà ta chỉ túm tụm nhậu nhẹt, bài bạc, ôn nghèo kể khổ, thương nhớ đồng quê. Kết quả của những chuyến du lịch ấy chỉ là ít đồ sấp ngửa sắm được, xấp ảnh đứng chường mặt trước danh lam thắng cảnh, di tích, xòng bạc… ở xứ người kiểu “Lão Tôn đã từng đến đây”. Đấy, cứ thế thì cả đời cũng chỉ biết có mỗi cái ngưỡng cửa nhà mình. Tích tiểu thành đại, mỗi ngày cứ co rúm mình vào một tí như thế thì trách sao không tụt hậu!
Có một chuyện nhỏ diễn ra đã dăm năm rồi nhưng vẫn làm tôi mỉm cười mỗi khi nhớ lại. Lần ấy, một người bạn tôi từ Pháp sang. Theo bản năng, đến bữa, tôi dẫn anh tới một nhà hàng Pháp thuộc loại sang ở TPHCM. Tưởng anh sẽ vui lắm khi có một người bạn Việt Nam chiều chuộng mình, đến một nơi xa lạ mà vẫn được sống trong không khí quê nhà. Ai dè, anh chối đây đẩy rồi nằng nặc đòi tôi dẫn đến một quán vỉa hè. Và chúng tôi đã ngồi bên hồ Con Rùa uống bia Sài Gòn xanh, ăn bò bía và tán chuyện hăng say về vùng đất của tôi. Anh bảo đó mới là điều thích thú, “chứ sang đây mà vẫn ăn đồ Pháp, nói chuyện nước Pháp thì tôi ở nhà cho xong”.
Nói chuyện ăn uống thì lại nhớ đến anh Khúc Duy Tiến, người đã dạy tôi kiểu ẩm thực "địa phương tính". Bảy năm trước, vợ chồng anh ra Hà Nội hưởng tuần trăng mật, tôi đưa hai người lên quán Phương Uyên uống bia và ngắm sóng hồ Tây. Vào bàn, vừa thấy tôi gọi bia Heineken, anh giãy nảy: “uống bia Hà Nội chứ, ra đây mà uống "Ken" thì tao ở Đà Nẵng cho xong”. Rồi vừa nhâm nhi cốc bia, anh vừa rủ rỉ: "Đi đâu thì nên uống bia đấy, ăn đồ ăn ở đấy cho biết hương vị". Tôi theo gu ẩm thực của anh từ đận ấy…
Người đi ra khỏi cổng làng được một bước thì về cái gì cũng so sánh, dè bỉu rằng quê mình là hủ lậu, chỉ có thiên hạ mới hay, mới đẹp. Người thì chả coi ai ra gì, chỉ có ta là nhất quả đất. Trường hợp đầu, mà các cụ nhạo là “c. Tây cũng vuông” thì cả đời đuổi hình bắt bóng của thiên hạ. Trường hợp sau, kiểu ta là đỉnh cao muôn trượng, thì mạt kiếp đứng yên một chỗ chả biết thiên hạ lên hành tinh khác từ đời nảo đời nào. Thế phải làm sao? Biết mình biết người, cổ nhân chả vẫn bảo thế là gì.
Thứ Tư, 2 tháng 9, 2009
Ngần ấy người ấy ơi
Đỗ Trung Lai
Người ấy như là mẹ ta
Lo từng miếng cơm ngụm nước
Ta dẫm phải gai mùng tơi
Người ấy buốt vào tận ruột!
Người ấy như là chị ta
Không cần biết ta được, mất
Thấy ta mặt ủ mày sầu
Thì lén co khăn thấm mắt!
Người ấy như là em ta
Ta lỡ một lời khinh xuất
Thì buồn suốt mấy tuần liền
Mặc kệ bờ xôi ruộng mật!
Người ấy như người ta yêu
Tiễn ta lên tàu ra trận
Rồi quay về nhà lấy chồng
Để ta phương trời lận đận!
Người ấy như người yêu ta
Trời cũng chưa là to nhất
Thấy ta bắt đầu bất công
Thì đứng về phe nước mắt!
Người ấy như là trò ta
Coi lời ta như pháp luật
Thấy ta lành lặn trở về
Thì chân đi không bén đất!
Người ấy như là bạn ta
Ba năm không nhìn thấy mặt
Nhưng ta gặp vận hạn gì
Thì đến cùng ta sớm nhất!
Người ấy như là vợ ta
Xinh xắn, dịu dàng, chân thật
Thấy ta về nhà đúng giờ
Thì tươi hơn đào, hơn quất!
Người ấy càng như vợ ta
Bình thường là đường là mật
Tam bành đã nổi lên rồi
Thì vua cũng là cục đất.
Ngần ấy người ấy đâu rồi!
Sao không cùng về họp mặt?
Lâu lâu mới gặp một người
Thì giờ trôi đi chán ngắt!
Ngần ấy người ấy đâu rồi!
Ngoài đường đã đầy tết nhất
Nói dại, ngần ấy cùng về
Cầm chắc là ta tan xác!
Người ấy như là mẹ ta
Lo từng miếng cơm ngụm nước
Ta dẫm phải gai mùng tơi
Người ấy buốt vào tận ruột!
Người ấy như là chị ta
Không cần biết ta được, mất
Thấy ta mặt ủ mày sầu
Thì lén co khăn thấm mắt!
Người ấy như là em ta
Ta lỡ một lời khinh xuất
Thì buồn suốt mấy tuần liền
Mặc kệ bờ xôi ruộng mật!
Người ấy như người ta yêu
Tiễn ta lên tàu ra trận
Rồi quay về nhà lấy chồng
Để ta phương trời lận đận!
Người ấy như người yêu ta
Trời cũng chưa là to nhất
Thấy ta bắt đầu bất công
Thì đứng về phe nước mắt!
Người ấy như là trò ta
Coi lời ta như pháp luật
Thấy ta lành lặn trở về
Thì chân đi không bén đất!
Người ấy như là bạn ta
Ba năm không nhìn thấy mặt
Nhưng ta gặp vận hạn gì
Thì đến cùng ta sớm nhất!
Người ấy như là vợ ta
Xinh xắn, dịu dàng, chân thật
Thấy ta về nhà đúng giờ
Thì tươi hơn đào, hơn quất!
Người ấy càng như vợ ta
Bình thường là đường là mật
Tam bành đã nổi lên rồi
Thì vua cũng là cục đất.
Ngần ấy người ấy đâu rồi!
Sao không cùng về họp mặt?
Lâu lâu mới gặp một người
Thì giờ trôi đi chán ngắt!
Ngần ấy người ấy đâu rồi!
Ngoài đường đã đầy tết nhất
Nói dại, ngần ấy cùng về
Cầm chắc là ta tan xác!
Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2009
Gọi tên là biết Sài Gòn
Ngày 1-2-1865, phó đô đốc Pierre Paul Marie de la Grandière (1807-1876) của nhà cầm quyền Pháp tiến hành đặt tên cho 26 con đường trên địa bàn thành phố Sài Gòn vốn trước đó chỉ được đánh số thứ tự.
Trải qua 311 năm xây dựng và phát triển, Sài Gòn - TPHCM hiện có hơn 1.500 con đường lớn, nhỏ và từ lâu đã rối như canh hẹ bởi chuyện đường trùng tên, thiếu tên đặt cho đường. Nguyên nhân thì nhiều, nhưng có một điểm trọng yếu là chúng ta không mặn mà với những tên gọi gắn liền với lịch sử, văn hóa của vùng đất mình đang sinh sống.
Đường xưa lối cũ
Đường Mã Lộ nằm trên địa bàn phường Tân Định, Q.1, dài chừng 120m, lộ giới 14m, bắt đầu từ đường Nguyễn Hữu Cầu đến đường Bà Lê Chân. Đường này ngắn nhưng thuộc loại rất xưa của vùng Sài Gòn, có từ khi xây cất chợ Tân Định, năm 1928. Thời Pháp thuộc, đường này mang tên Lê Văn Duyệt. Từ ngày 16-10-1955, chính quyền Sài Gòn đổi là đường Mã Lộ và được dùng cho đến ngày nay.
Con đường này nằm phía sau chợ Tân Định. Ngày xưa chưa có các loại xe lam, xích lô, ba gác thì phương tiện đi lại chủ yếu để người ta đi lại và chuyên chở hàng hóa là xe ngựa. Những chiếc xe thổ mộ lóc cóc từ các vùng ngoại ô: Hóc Môn, Bình Chánh, Gò Vấp, Tân Bình… chở người và hàng về chợ bán mua. Sau khi đổ hàng, xuống khách, các xà ích cho xe ngựa tập trung ở một đoạn đường sau chợ cho ngựa nghỉ chân, ăn cỏ, uống nước, người tranh thủ chợp mắt hay túm năm tụm ba trò chuyện, chờ chợ tan lại đón hàng và người về. Lâu dần, đoạn đường này được gọi bằng cái tên thân thuộc: Mã Lộ (đường của ngựa).
Ở Q.3 có một con đường mà khi gọi tên ta đã nghe giăng mắc ô thửa, đó là đường Bàn Cờ, chạy từ đường Nguyễn Đình Chiểu đến đường Điện Biên Phủ, thuộc địa bàn phường 2 và 3, dài khoảng 460m. Lịch sử tên gọi đường này cũng rất độc đáo. Năm 1910, dưới thời Pháp thuộc, TP Sài Gòn được mở rộng về phía tây. Khu đất phía trong đường Nguyễn Thiện Thuật được quy hoạch, xẻ ngang, vạch dọc như bàn cờ để phân cho dân chúng xây nhà. Thấy đường sá ở đây cắt ô như bàn cờ tướng, người ta liền gọi là khu Bàn Cờ. Con đường chính băng qua khu này mặc nhiên được gọi là đường Bàn Cờ. Theo truyền văn thì khi mới làm tuyến đường sắt Sài Gòn - Mỹ Tho đặt ga đầu ở khu này. Đầu máy về tới đây, muốn quay lại để đi xuống Mỹ Tho, phải trướn lên một cái mâm hình tròn, quay trên một trục vững chắc để công nhân đẩy xoay đầu lại. Cái mâm ấy gọi là bàn cờ. Đường chạy qua khu có cái mâm ấy được gọi là đường Bàn Cờ.
Ở Q.4 có một đường mang tên nghề gắn liền với giấc ngủ của con người từ xưa đến nay: đường Xóm Chiếu. Con đường thuộc địa phận phường 15 và 16, dài 905m này mang tên một địa danh của đất Gia Định xưa, có từ đời vua Minh Mạng (1884). Chả là, từ thời Gia Long, vùng này chỉ có thôn Khánh Hội và Bình Ý nằm gần kinh Bến Nghé và sông Sài Gòn. Phía trong toàn bưng sình, mọc đầy cây bàng (thảo câu) và lác. Tận dụng nguồn nguyên liệu này, dân chúng quy tụ thành một xóm làm nghề dệt chiếu và lập chợ để bán. Từ đó, tên Xóm Chiếu ra đời.
Cũng thuộc ngạch đường mang tên nghề nghiệp của người dân sở tại, ở Q.5 có đường Xóm Cải (thuộc địa bàn phường 11, dài 125m, chạy từ đường Nguyễn Trãi đến đường Mạc Thiên Tích; Xóm Cải là địa danh của đất Chợ Lớn xưa kia, là nơi cư ngụ của những người chuyên nghề trồng rau cải để bán), Xóm Chỉ (thuộc địa bàn phường 10, từ đường Phan Phù Tiên đến đường Tản Đà, dài khoảng 118m; Xóm Chỉ là địa danh của đất Chợ Lớn (cũ), xưa kia, dân vùng này chuyên làm nghề kéo chỉ), Xóm Vôi (địa danh cũ của đất Gia Định, nơi có người dân lập thành xóm chuyên chở đá xanh từ vùng Hà Tiên lên để nung vôi bán cho người ta xây dựng, ăn trầu), Q.6 có đường Lò Gốm, quận Tân Bình có đường Vườn Lài (dân sở tại trồng cây hoa lài (nhài) để ướp trà, Q.9 có đường Lò Lu, huyện Củ Chi có đường Xóm Thuốc (thuốc lá để hút)...
Ai có tâm hồn ăn uống, nhắc đến tên đường Vườn Thơm, thuộc xã Lê Minh Xuân và Bình Lợi, huyện Bình Chánh, chắc phải tứa nước miếng. Quả vậy, dưới thời Pháp thuộc, đây là một đồn điền bạt ngàn thơm (dứa).
Ở tỉnh Chợ Lớn cũ có một vùng kênh rạch chằng chịt, ghe thuyền đi lại tấp nập. Dân trong vùng trồng rất nhiều cây sao để lấy gỗ đóng ghe, thuyền. Hằng năm, từ tháng 12 đến tháng 4, là mùa cây sao ra bông, đậu quả, không biết cơ man nào mà kể. Mỗi cơn gió thoảng qua, bứt bông sao khỏi cành thổi bay lơ lửng trên không trung một hồi rồi mới rơi xuống rải đầy mặt đất, mặt nước, trông đẹp như tiên cảnh. Thế là người dân lấy tên Bông Sao để gọi con đường chạy qua vùng. Nay đường này thuộc P.4, Q.8.
Chỉ về sự ấm no thì ở P.15, Q.8 có đường Mễ Cốc, dài 2.350m, lộ giới 20m. Mễ Cốc nguyên là một kho lúa, sau thành địa danh. Nghe tên đường, ta đã gợi nhớ đến vùng đồng bằng Nam Bộ, vựa lúa của miền Nam. Từ ngày một số người Hoa không phục nhà Thanh, qua đây xin chúa Nguyễn cho lập nghiệp ở vùng Chợ Lớn, lúa được xuất khẩu sang các nước Đông Nam Á. Rồi từ ngày người Pháp lập cảng Sài Gòn thì vùng này mỗi ngày có hàng trăm ghe, thuyền từ các tỉnh miền Tây đổ về Chợ Lớn, lúa được bốc lên các kho, vựa trên bến để rồi chuyển đến các nhà máy xay xát. Thế là bến mang tên Mễ Cốc (bến lúa gạo).
Để gợi nhớ thưở đất rộng người thưa, ta hãy về xã Phước Thạnh, huyện Củ Chi tản bộ trên đường Mít Nài dài 1.500m. Mít nài là giống mít mọc hoang dại ở ven rừng, có trái na ná mít vườn nhưng không ăn được, gỗ chỉ dùng làm củi. Xã Phước Thạnh trước đây cả thế kỷ chỉ là rừng, mít nài mọc hoang vô kể. Cũng trên địa bàn huyện Củ Chi, có những tên đường mà khi gọi lên ta đã thấy thiên nhiên gần gụi: Cây Bài (xã Phước Vĩnh An), Cây Điệp (xã Nhuận Đức), Cây Gõ (xã An Phú), Cây Trắc (xã Phú Hòa Đông), Cây Trôm (xã Phước Hiệp, Thái Mỹ).
Ai yêu chim muông, mời về xã Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh đi trên con đường dài khoảng 6.000m thỏa thê nghe tiếng le le lội nước và ngắm cánh cò bay lả bay la. Đường tên là Láng Le - Bàu Cò mà! Đây là địa danh cũ của tỉnh Gia Định chỉ một vùng đất sũng nước, nơi cư ngụ của cơ man nào là le le và cò. Đường Hố Bò ở xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi thì nhắc ta rằng thời xa xưa, vùng này sâu trũng, cây cối rậm rạp, là nơi nương náu của rất nhiều loài bò rừng.
Để trí tưởng tượng bay xa hơn nữa, mời bạn đến đường Gò Cẩm Đệm ở P.10, quận Tân Bình. Sở dĩ con đường dài 840m, lộ giới 12m này mang tên vậy là do nơi đây xưa kia là một gò đất cao, rộng 3 dặm, nằm phía sau Giác Lâm cổ tự, thuộc địa phận xã Phú Thọ Hòa, huyện Bình Dương. Khi xưa trên gò, cỏ thơm mọc dày như trải đệm, cây cao bóng mát tỏa như lọng che nên dân chúng gọi tên là gò Cẩm Đệm rồi thành địa danh, từ ngày 13-7-1999 thì là tên đường.
Đất Sài Gòn - Gia Định rộng lớn, người hào sảng mà tâm hồn mơ mộng nên cũng luôn là đất văn chương thi phú. Điều ấy ghi dấu ở tên đường Bình Dương Thi Xã, P.5, Q.1 mang tên một hội thơ nổi tiếng và bề thế nhất tại huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định hồi đầu thế kỷ XIX. Nổi danh nhất của thi xã này là 3 danh sĩ: Trịnh Hoài Đức (chủ hội), Lê Quang Định và Ngô Nhơn Tịnh mà đương thời gọi là Gia Định tam gia…
Quyến rũ chừng… 10%
Tôi ngồi tỉ mẩn đếm đếm tính tính theo các tài liệu về tên đường ở TPHCM, quỹ tên đường của Hội đồng đặt mới, sửa đổi tên đường, công viên, quảng trường và công trình công cộng TPHCM thì thấy một con số đáng báo động, những tên đường độc đáo, thân thuộc, gọi là biết ngay Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định như kể trên chỉ chiếm chừng 10%.
Trong khi đó, xưa nay, chúng ta quá say sưa với những tên nhân vật lịch sử. Tất nhiên, việc tôn vinh công đức của tiền nhân là điều cần thiết, nhưng cũng đừng hồn nhiên nghĩ rằng cứ đặt tên một con đường, xây dựng một tượng đài thì chắc chắn sẽ làm được việc giáo dục truyền thống.
Có một chuyện nhỏ diễn ra đã dăm năm rồi nhưng vẫn làm tôi mỉm cười mỗi khi nhớ lại. Lần ấy, Alain Thomas - bạn tôi - từ Pháp sang. Theo bản năng, đến bữa, tôi dẫn anh đến một nhà hàng Pháp thuộc loại sang ở thành phố. Tưởng anh sẽ vui lắm khi có một người bạn Việt Nam chiều chuộng mình, đến một nơi xa lạ mà vẫn được sống trong không khí quê nhà. Ai dè, anh chối đây đẩy và nằng nặc đòi tôi dẫn đến một quán vỉa hè. Và chúng tôi đã ngồi bên hồ Con Rùa uống bia Sài Gòn xanh, ăn bò bía và tán chuyện hăng say về vùng đất của tôi. Alain bảo đó mới là điều thích thú “chứ sang đây mà vẫn ăn đồ Pháp, nói chuyện nước Pháp thì tôi ở nhà cho xong”.
Trở lại chuyện tên đường cũng vậy. Đến mỗi địa phương, đi trên những con đường mang đậm dấu tích văn hóa của vùng đất, con người nơi ấy, chắc chắn chúng ta thấy thú vị hơn rất nhiều khi gặp những tên đường mà ở đâu cũng có.
Chẳng hạn, ở Sài Gòn, 146 năm trước, me là cây đầu tiên được người Pháp mang trồng ở hai bên đường. Hầu hết các con đường trên địa bàn thành phố đều có bóng me; me đã là nhạc, là thơ, là hơi thở của người dân xứ này! Đến Sài Gòn mà được tản bộ trên con đường mang tên Lá Me Bay và giơ tay bắt những lá me chao trong gió, nếm vị giôn giốt của trái me thì thật là ấn tượng đặc biệt. Ai biết ở TPHCM, từ giữa tháng 5, trái dầu rái bứt khỏi cành, tạo thành những chiếc chong chóng xoay tít khắp phố phường để mơ về một con đường mang tên Dầu Rái?
Cũng vậy, nếu chúng ta cởi mở và lãng mạn hơn, trên những nẻo đường đất Việt sẽ có những tên đường, phố độc đáo, gắn với những sản vật của địa phương như: đường Hoa Ban ở Điện Biên, phố Hoàng Lan ở Hà Nội, đường Phượng Bay (từ cảm hứng trong những chiều đi trên đường này, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã viết “Đường phượng bay mù không lối vào” (Mưa hồng) ở Huế… là một nét thi vị và luyến nhớ cho cả dân địa phương và du khách. Đồng cảm với chúng tôi về vấn đề này, TS khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu - Phó tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TPHCM chia sẻ: “Theo tôi, nên lưu giữ những địa danh dân gian để đặt tên đường phố hay tên đơn vị hành chính mới trong quá trình đô thị hóa. Dân gian hay đặt tên cho một khu vực nào đó theo đặc điểm về tự nhiên hay truyền thuyết của khu vực ấy, hoặc cũng hay gọi một cách không chính thức nhưng lại dễ nhớ, dễ tìm. Vì vậy, tên các loài cây, hoa - nếu là đặc điểm, đặc trưng của một khu vực, một con đường, một ngõ hẻm... rất nên dùng để đặt tên cho khu vực, đường, hẻm ấy. Nó sẽ làm cho người dân trân trọng và gìn giữ các loài cây, hoa đó, góp phần bảo vệ môi trường, tạo nên nét đẹp văn hóa đa dạng của TP. Những giá trị văn hóa vật thể như thế qua thời gian sẽ lắng đọng, trở thành di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của từng địa phương”.
Cũng theo bà, trong các khu đô thị mới hiện nay, cần khuyến khích người dân trồng các loại cây, hoa làm đẹp, mang lại bóng mát cũng như mảng xanh cho thành phố. Và cũng rất hay nếu như đặt tên đường, khu phố mới theo tên các loài thực vật đó.
... Biết đâu chừng, một ngày, giữa Sài Gòn ồn ã, kẻ lãng đãng là tôi lại được tủm tỉm nhắn nhe lũ bạn rằng: «Nhà tôi ở hẻm Cây Điệp, đường Chiêu Liêu. Sáng sáng, sau khi tản bộ trên đường Nhạc Ngựa, tôi đến đường Đủng Đỉnh uống cà phê rồi về làm việc ở đường Long Não»...
Box:
- Năm 2008, Hội đồng thị trấn Dartford, London, Anh đã phê chuẩn đặt tên 13 đường phố trong một khu dân cư mới xây dựng lấy cảm hứng từ tên các ca khúc của ban nhạc Rolling Stones như: Sympathy Street (cảm hứng từ ca khúc Sympathy for the devil), Cloud Close (từ ca khúc Get off of my cloud), Rainbow Close (She’s a rainbow), Babylon Close (Bridges to babylon), Dandelion Row (Dandelion), Ruby Tuesday Drive (Ruby Tuesday)...
- Nếu chúng ta cởi mở và lãng mạn hơn, trên những nẻo đường đất Việt sẽ có những tên đường, phố độc đáo, gắn với những sản vật của địa phương.
- Đến mỗi địa phương, đi trên những con đường mang đậm dấu tích văn hóa của vùng đất, con người nơi ấy, chắc chắn chúng ta thấy thú vị hơn rất nhiều khi gặp những tên đường mà ở đâu cũng có.
Hàn Mai tự, TPHCM, 19-8-2009
Trải qua 311 năm xây dựng và phát triển, Sài Gòn - TPHCM hiện có hơn 1.500 con đường lớn, nhỏ và từ lâu đã rối như canh hẹ bởi chuyện đường trùng tên, thiếu tên đặt cho đường. Nguyên nhân thì nhiều, nhưng có một điểm trọng yếu là chúng ta không mặn mà với những tên gọi gắn liền với lịch sử, văn hóa của vùng đất mình đang sinh sống.
Đường xưa lối cũ
Đường Mã Lộ nằm trên địa bàn phường Tân Định, Q.1, dài chừng 120m, lộ giới 14m, bắt đầu từ đường Nguyễn Hữu Cầu đến đường Bà Lê Chân. Đường này ngắn nhưng thuộc loại rất xưa của vùng Sài Gòn, có từ khi xây cất chợ Tân Định, năm 1928. Thời Pháp thuộc, đường này mang tên Lê Văn Duyệt. Từ ngày 16-10-1955, chính quyền Sài Gòn đổi là đường Mã Lộ và được dùng cho đến ngày nay.
Con đường này nằm phía sau chợ Tân Định. Ngày xưa chưa có các loại xe lam, xích lô, ba gác thì phương tiện đi lại chủ yếu để người ta đi lại và chuyên chở hàng hóa là xe ngựa. Những chiếc xe thổ mộ lóc cóc từ các vùng ngoại ô: Hóc Môn, Bình Chánh, Gò Vấp, Tân Bình… chở người và hàng về chợ bán mua. Sau khi đổ hàng, xuống khách, các xà ích cho xe ngựa tập trung ở một đoạn đường sau chợ cho ngựa nghỉ chân, ăn cỏ, uống nước, người tranh thủ chợp mắt hay túm năm tụm ba trò chuyện, chờ chợ tan lại đón hàng và người về. Lâu dần, đoạn đường này được gọi bằng cái tên thân thuộc: Mã Lộ (đường của ngựa).
Ở Q.3 có một con đường mà khi gọi tên ta đã nghe giăng mắc ô thửa, đó là đường Bàn Cờ, chạy từ đường Nguyễn Đình Chiểu đến đường Điện Biên Phủ, thuộc địa bàn phường 2 và 3, dài khoảng 460m. Lịch sử tên gọi đường này cũng rất độc đáo. Năm 1910, dưới thời Pháp thuộc, TP Sài Gòn được mở rộng về phía tây. Khu đất phía trong đường Nguyễn Thiện Thuật được quy hoạch, xẻ ngang, vạch dọc như bàn cờ để phân cho dân chúng xây nhà. Thấy đường sá ở đây cắt ô như bàn cờ tướng, người ta liền gọi là khu Bàn Cờ. Con đường chính băng qua khu này mặc nhiên được gọi là đường Bàn Cờ. Theo truyền văn thì khi mới làm tuyến đường sắt Sài Gòn - Mỹ Tho đặt ga đầu ở khu này. Đầu máy về tới đây, muốn quay lại để đi xuống Mỹ Tho, phải trướn lên một cái mâm hình tròn, quay trên một trục vững chắc để công nhân đẩy xoay đầu lại. Cái mâm ấy gọi là bàn cờ. Đường chạy qua khu có cái mâm ấy được gọi là đường Bàn Cờ.
Ở Q.4 có một đường mang tên nghề gắn liền với giấc ngủ của con người từ xưa đến nay: đường Xóm Chiếu. Con đường thuộc địa phận phường 15 và 16, dài 905m này mang tên một địa danh của đất Gia Định xưa, có từ đời vua Minh Mạng (1884). Chả là, từ thời Gia Long, vùng này chỉ có thôn Khánh Hội và Bình Ý nằm gần kinh Bến Nghé và sông Sài Gòn. Phía trong toàn bưng sình, mọc đầy cây bàng (thảo câu) và lác. Tận dụng nguồn nguyên liệu này, dân chúng quy tụ thành một xóm làm nghề dệt chiếu và lập chợ để bán. Từ đó, tên Xóm Chiếu ra đời.
Cũng thuộc ngạch đường mang tên nghề nghiệp của người dân sở tại, ở Q.5 có đường Xóm Cải (thuộc địa bàn phường 11, dài 125m, chạy từ đường Nguyễn Trãi đến đường Mạc Thiên Tích; Xóm Cải là địa danh của đất Chợ Lớn xưa kia, là nơi cư ngụ của những người chuyên nghề trồng rau cải để bán), Xóm Chỉ (thuộc địa bàn phường 10, từ đường Phan Phù Tiên đến đường Tản Đà, dài khoảng 118m; Xóm Chỉ là địa danh của đất Chợ Lớn (cũ), xưa kia, dân vùng này chuyên làm nghề kéo chỉ), Xóm Vôi (địa danh cũ của đất Gia Định, nơi có người dân lập thành xóm chuyên chở đá xanh từ vùng Hà Tiên lên để nung vôi bán cho người ta xây dựng, ăn trầu), Q.6 có đường Lò Gốm, quận Tân Bình có đường Vườn Lài (dân sở tại trồng cây hoa lài (nhài) để ướp trà, Q.9 có đường Lò Lu, huyện Củ Chi có đường Xóm Thuốc (thuốc lá để hút)...
Ai có tâm hồn ăn uống, nhắc đến tên đường Vườn Thơm, thuộc xã Lê Minh Xuân và Bình Lợi, huyện Bình Chánh, chắc phải tứa nước miếng. Quả vậy, dưới thời Pháp thuộc, đây là một đồn điền bạt ngàn thơm (dứa).
Ở tỉnh Chợ Lớn cũ có một vùng kênh rạch chằng chịt, ghe thuyền đi lại tấp nập. Dân trong vùng trồng rất nhiều cây sao để lấy gỗ đóng ghe, thuyền. Hằng năm, từ tháng 12 đến tháng 4, là mùa cây sao ra bông, đậu quả, không biết cơ man nào mà kể. Mỗi cơn gió thoảng qua, bứt bông sao khỏi cành thổi bay lơ lửng trên không trung một hồi rồi mới rơi xuống rải đầy mặt đất, mặt nước, trông đẹp như tiên cảnh. Thế là người dân lấy tên Bông Sao để gọi con đường chạy qua vùng. Nay đường này thuộc P.4, Q.8.
Chỉ về sự ấm no thì ở P.15, Q.8 có đường Mễ Cốc, dài 2.350m, lộ giới 20m. Mễ Cốc nguyên là một kho lúa, sau thành địa danh. Nghe tên đường, ta đã gợi nhớ đến vùng đồng bằng Nam Bộ, vựa lúa của miền Nam. Từ ngày một số người Hoa không phục nhà Thanh, qua đây xin chúa Nguyễn cho lập nghiệp ở vùng Chợ Lớn, lúa được xuất khẩu sang các nước Đông Nam Á. Rồi từ ngày người Pháp lập cảng Sài Gòn thì vùng này mỗi ngày có hàng trăm ghe, thuyền từ các tỉnh miền Tây đổ về Chợ Lớn, lúa được bốc lên các kho, vựa trên bến để rồi chuyển đến các nhà máy xay xát. Thế là bến mang tên Mễ Cốc (bến lúa gạo).
Để gợi nhớ thưở đất rộng người thưa, ta hãy về xã Phước Thạnh, huyện Củ Chi tản bộ trên đường Mít Nài dài 1.500m. Mít nài là giống mít mọc hoang dại ở ven rừng, có trái na ná mít vườn nhưng không ăn được, gỗ chỉ dùng làm củi. Xã Phước Thạnh trước đây cả thế kỷ chỉ là rừng, mít nài mọc hoang vô kể. Cũng trên địa bàn huyện Củ Chi, có những tên đường mà khi gọi lên ta đã thấy thiên nhiên gần gụi: Cây Bài (xã Phước Vĩnh An), Cây Điệp (xã Nhuận Đức), Cây Gõ (xã An Phú), Cây Trắc (xã Phú Hòa Đông), Cây Trôm (xã Phước Hiệp, Thái Mỹ).
Ai yêu chim muông, mời về xã Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh đi trên con đường dài khoảng 6.000m thỏa thê nghe tiếng le le lội nước và ngắm cánh cò bay lả bay la. Đường tên là Láng Le - Bàu Cò mà! Đây là địa danh cũ của tỉnh Gia Định chỉ một vùng đất sũng nước, nơi cư ngụ của cơ man nào là le le và cò. Đường Hố Bò ở xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi thì nhắc ta rằng thời xa xưa, vùng này sâu trũng, cây cối rậm rạp, là nơi nương náu của rất nhiều loài bò rừng.
Để trí tưởng tượng bay xa hơn nữa, mời bạn đến đường Gò Cẩm Đệm ở P.10, quận Tân Bình. Sở dĩ con đường dài 840m, lộ giới 12m này mang tên vậy là do nơi đây xưa kia là một gò đất cao, rộng 3 dặm, nằm phía sau Giác Lâm cổ tự, thuộc địa phận xã Phú Thọ Hòa, huyện Bình Dương. Khi xưa trên gò, cỏ thơm mọc dày như trải đệm, cây cao bóng mát tỏa như lọng che nên dân chúng gọi tên là gò Cẩm Đệm rồi thành địa danh, từ ngày 13-7-1999 thì là tên đường.
Đất Sài Gòn - Gia Định rộng lớn, người hào sảng mà tâm hồn mơ mộng nên cũng luôn là đất văn chương thi phú. Điều ấy ghi dấu ở tên đường Bình Dương Thi Xã, P.5, Q.1 mang tên một hội thơ nổi tiếng và bề thế nhất tại huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định hồi đầu thế kỷ XIX. Nổi danh nhất của thi xã này là 3 danh sĩ: Trịnh Hoài Đức (chủ hội), Lê Quang Định và Ngô Nhơn Tịnh mà đương thời gọi là Gia Định tam gia…
Quyến rũ chừng… 10%
Tôi ngồi tỉ mẩn đếm đếm tính tính theo các tài liệu về tên đường ở TPHCM, quỹ tên đường của Hội đồng đặt mới, sửa đổi tên đường, công viên, quảng trường và công trình công cộng TPHCM thì thấy một con số đáng báo động, những tên đường độc đáo, thân thuộc, gọi là biết ngay Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định như kể trên chỉ chiếm chừng 10%.
Trong khi đó, xưa nay, chúng ta quá say sưa với những tên nhân vật lịch sử. Tất nhiên, việc tôn vinh công đức của tiền nhân là điều cần thiết, nhưng cũng đừng hồn nhiên nghĩ rằng cứ đặt tên một con đường, xây dựng một tượng đài thì chắc chắn sẽ làm được việc giáo dục truyền thống.
Có một chuyện nhỏ diễn ra đã dăm năm rồi nhưng vẫn làm tôi mỉm cười mỗi khi nhớ lại. Lần ấy, Alain Thomas - bạn tôi - từ Pháp sang. Theo bản năng, đến bữa, tôi dẫn anh đến một nhà hàng Pháp thuộc loại sang ở thành phố. Tưởng anh sẽ vui lắm khi có một người bạn Việt Nam chiều chuộng mình, đến một nơi xa lạ mà vẫn được sống trong không khí quê nhà. Ai dè, anh chối đây đẩy và nằng nặc đòi tôi dẫn đến một quán vỉa hè. Và chúng tôi đã ngồi bên hồ Con Rùa uống bia Sài Gòn xanh, ăn bò bía và tán chuyện hăng say về vùng đất của tôi. Alain bảo đó mới là điều thích thú “chứ sang đây mà vẫn ăn đồ Pháp, nói chuyện nước Pháp thì tôi ở nhà cho xong”.
Trở lại chuyện tên đường cũng vậy. Đến mỗi địa phương, đi trên những con đường mang đậm dấu tích văn hóa của vùng đất, con người nơi ấy, chắc chắn chúng ta thấy thú vị hơn rất nhiều khi gặp những tên đường mà ở đâu cũng có.
Chẳng hạn, ở Sài Gòn, 146 năm trước, me là cây đầu tiên được người Pháp mang trồng ở hai bên đường. Hầu hết các con đường trên địa bàn thành phố đều có bóng me; me đã là nhạc, là thơ, là hơi thở của người dân xứ này! Đến Sài Gòn mà được tản bộ trên con đường mang tên Lá Me Bay và giơ tay bắt những lá me chao trong gió, nếm vị giôn giốt của trái me thì thật là ấn tượng đặc biệt. Ai biết ở TPHCM, từ giữa tháng 5, trái dầu rái bứt khỏi cành, tạo thành những chiếc chong chóng xoay tít khắp phố phường để mơ về một con đường mang tên Dầu Rái?
Cũng vậy, nếu chúng ta cởi mở và lãng mạn hơn, trên những nẻo đường đất Việt sẽ có những tên đường, phố độc đáo, gắn với những sản vật của địa phương như: đường Hoa Ban ở Điện Biên, phố Hoàng Lan ở Hà Nội, đường Phượng Bay (từ cảm hứng trong những chiều đi trên đường này, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã viết “Đường phượng bay mù không lối vào” (Mưa hồng) ở Huế… là một nét thi vị và luyến nhớ cho cả dân địa phương và du khách. Đồng cảm với chúng tôi về vấn đề này, TS khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu - Phó tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TPHCM chia sẻ: “Theo tôi, nên lưu giữ những địa danh dân gian để đặt tên đường phố hay tên đơn vị hành chính mới trong quá trình đô thị hóa. Dân gian hay đặt tên cho một khu vực nào đó theo đặc điểm về tự nhiên hay truyền thuyết của khu vực ấy, hoặc cũng hay gọi một cách không chính thức nhưng lại dễ nhớ, dễ tìm. Vì vậy, tên các loài cây, hoa - nếu là đặc điểm, đặc trưng của một khu vực, một con đường, một ngõ hẻm... rất nên dùng để đặt tên cho khu vực, đường, hẻm ấy. Nó sẽ làm cho người dân trân trọng và gìn giữ các loài cây, hoa đó, góp phần bảo vệ môi trường, tạo nên nét đẹp văn hóa đa dạng của TP. Những giá trị văn hóa vật thể như thế qua thời gian sẽ lắng đọng, trở thành di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của từng địa phương”.
Cũng theo bà, trong các khu đô thị mới hiện nay, cần khuyến khích người dân trồng các loại cây, hoa làm đẹp, mang lại bóng mát cũng như mảng xanh cho thành phố. Và cũng rất hay nếu như đặt tên đường, khu phố mới theo tên các loài thực vật đó.
... Biết đâu chừng, một ngày, giữa Sài Gòn ồn ã, kẻ lãng đãng là tôi lại được tủm tỉm nhắn nhe lũ bạn rằng: «Nhà tôi ở hẻm Cây Điệp, đường Chiêu Liêu. Sáng sáng, sau khi tản bộ trên đường Nhạc Ngựa, tôi đến đường Đủng Đỉnh uống cà phê rồi về làm việc ở đường Long Não»...
Box:
- Năm 2008, Hội đồng thị trấn Dartford, London, Anh đã phê chuẩn đặt tên 13 đường phố trong một khu dân cư mới xây dựng lấy cảm hứng từ tên các ca khúc của ban nhạc Rolling Stones như: Sympathy Street (cảm hứng từ ca khúc Sympathy for the devil), Cloud Close (từ ca khúc Get off of my cloud), Rainbow Close (She’s a rainbow), Babylon Close (Bridges to babylon), Dandelion Row (Dandelion), Ruby Tuesday Drive (Ruby Tuesday)...
- Nếu chúng ta cởi mở và lãng mạn hơn, trên những nẻo đường đất Việt sẽ có những tên đường, phố độc đáo, gắn với những sản vật của địa phương.
- Đến mỗi địa phương, đi trên những con đường mang đậm dấu tích văn hóa của vùng đất, con người nơi ấy, chắc chắn chúng ta thấy thú vị hơn rất nhiều khi gặp những tên đường mà ở đâu cũng có.
Hàn Mai tự, TPHCM, 19-8-2009
Chủ Nhật, 16 tháng 8, 2009
Thứ Hai, 13 tháng 7, 2009
Bệnh hoắng
Biết tiếng bà này nuôi hơn 300 em nhỏ mồ côi, tàn tật... thích quá, đội nắng chạy xuống Dĩ An, Bình Dương, hi vọng được xúc động.
Xuống tới nơi, cảm giác đầu tiên là chán. Đâu đâu cũng thấy tên bà ấy được đắp, vẽ, ảnh bà ấy chụp với các lãnh đạo, bằng khen, giấy khen... treo khắp phòng. Chả thấy sự hiện diện của những nhân vật chính - những thiên thần nhỏ. Vừa gặp, chưa gì bà ấy đã nổ tung trời, kể lể về bản thân đủ điều. Mình chán quá, ra khỏi phòng, đi lòng vòng thăm các cháu nhỏ một lúc rồi về. Buồn thiu. Thất vọng.
Xuống tới nơi, cảm giác đầu tiên là chán. Đâu đâu cũng thấy tên bà ấy được đắp, vẽ, ảnh bà ấy chụp với các lãnh đạo, bằng khen, giấy khen... treo khắp phòng. Chả thấy sự hiện diện của những nhân vật chính - những thiên thần nhỏ. Vừa gặp, chưa gì bà ấy đã nổ tung trời, kể lể về bản thân đủ điều. Mình chán quá, ra khỏi phòng, đi lòng vòng thăm các cháu nhỏ một lúc rồi về. Buồn thiu. Thất vọng.
Thứ Tư, 27 tháng 5, 2009
Bếp núc chân tu
Mười năm trước, ăn bữa cỗ chay đầu tiên trong một ngôi cổ tự mà thấy có cả chả chìa, giò bò, mực hấp v.v., gã ngông cuồng là tôi mới xiên xẹo nghĩ rằng các tăng, ni xuất gia mà vẫn lưu luyến đời sống phàm tục nên làm món chay mà cứ phải bắt chước sao cho thật giống từ hình dạng đến mùi vị của các món mặn, thế thì tu sao cho đặng. Nghe điều chướng tai ấy từ miệng một đệ tử mới, sư thầy chủ tiệc chỉ cười nhân từ rồi bảo: “Anh cứ trải đời đi đã. Lúc nào ngộ thì quay lại tìm tôi, thầy trò mình đàm đạo chuyện cơm chay”. 10 năm, chưa đủ để hiểu đời, nhưng càng bầm dập sau những lần lên thác xuống ghềnh, tôi càng thấm lời Phật dạy: sắc sắc không không. Vậy là, tôi quày quả trở về tìm ni trưởng Thích Đàm Ánh.
Hà thành đệ nhất cỗ chay
Như một cơ duyên, ngày tôi trở về cũng là hôm chùa có việc, thầy làm lễ cúng thất tuần cho người dì quá cố. Nghĩa là thêm một dịp thầy đích thân thi triển công phu qua từng món ăn. Hôm ấy, thầy làm ba chục mâm cỗ chay vừa cúng vừa đãi đằng bà con họ hàng đi tới 3 xe ô tô 16 chỗ ngồi nô nức từ Bắc Giang kéo xuống chốn già lam nằm hút cuối ngõ Cống Trắng - phố Khâm Thiên - phường Trung Phụng - quận Đống Đa - TP. Hà Nội. Ba chục mâm cỗ chả thấm vào đâu so với những lần thầy biện cả trăm mâm mỗi ngày để đãi khách vào những dịp lễ trọng: rằm tháng Giêng, lễ Vu Lan báo hiếu, giỗ tổ, đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc, đại lễ Phật đản thế giới tại Việt Nam… Nhưng, một hay trăm món cũng vậy, thầy luôn để vào đó tất cả sự tâm huyết. Tuồng như với thầy, nấu cỗ chay cũng là một đường tu.
Từ mấy chục năm nay, ngày nào cũng vậy, cứ 3h sáng là thầy tỉnh giấc, thiền định đến 4h thì ra khỏi giường và bắt đầu một ngày tất bật việc đạo, việc đời. Sáng nay, chùa có việc nên thầy phải đi chợ sớm. Để yên cho các đệ tử ngon giấc, thầy khẽ khàng lách mình qua cửa, đi bộ ra đầu ngõ, bắt một chiếc xe ôm lên thẳng chợ Bắc Qua - chợ đầu mối nông sản lớn nhất đất Hà thành.
Dạo khắp chợ, vừa hỏi han cha mẹ, con cái người này, chuyện mớ rau, cân quả với người khác, thầy vừa nhanh tay chọn từng cọng hành, củ khoai tây, súp lơ, cân phù trúc… Vốn tính tằn tiện, lại quen lối sống khổ hạnh của người tu hành, hễ lần nào làm cỗ bàn, thầy đều phải cất công lên đây mua thực phẩm, là chợ bán buôn nên rau, củ, quả vừa tươi, ngon, lại rẻ hơn các nơi khác vài giá. Thầy chọn mua hàng thì kỹ lắm, hàng giập, hàng xấu thì đừng hòng lọt lưới đã đành, ngay cả những thứ đã tươi ngon rồi, người cũng còn suy xét chán rồi mới quyết định: “Hôm nay làm đậu phụ nên mua đỗ này thì dôi; để hôm khác mua loại hạt nhỏ thì làm tương mới thơm và được nước”. Còn “đây là mộc nhĩ Nam, to, mua để gói giò thì được chứ để xào nấu thì chốc nữa ra đầu chợ mua hàng Bắc của chị Tân Đan Phượng, loại ấy nhỏ, đen nhưng giòn và thơm lắm”…
Vồn vã chuyện trò, nhanh nhảu bán mua, chừng 5h sáng, thầy và những tải thực phẩm nghễu nghện về đến chùa thì mấy ni, vãi già mới tỉnh giấc. Ngồi xuống một góc quen thuộc nơi chiếc chiếu trải ở góc trái hành lang tam bảo, thầy pha một ấm trà sen ngồi nhâm nhi, nghỉ lấy sức rồi gọi các đệ tử lên cắt đặt công việc trong ngày. Hương sen làm buổi sáng thêm tinh khiết. Lối nói chuyện hay pha trò cùng điệu cười hấp háy thường trực làm người đối diện không dám nghĩ là thầy đã 86 tuổi, lại đang vật lộn với đủ thứ bệnh.
Cỗ chay chùa Phụng Thánh do thầy Đàm Ánh trổ tài thao lược từ nấu nướng đến bày biện thì vô cùng phong phú. Sáu người đủ đóng đủ mâm. Một xoong nhỏ được bưng lên, mở vung, hương thơm ngào ngạt lan tỏa làm ai nấy đều hít hà. Đó là món khai vị: cháo nấm. Vừa vặn mỗi người được một bát, khói bốc nghi ngút, múc một thìa cháo đặc sánh, hương thơm dịu của nấm, gạo len ngay vào mũi. Thìa cháo vào đến miệng, đầu lưỡi tê đi vì nóng, nuốt một miếng nhỏ, ôi thôi, vị béo, bùi đã đánh gục con tì, con vị của ta rồi. Hết món phụ: nộm hoa chuối tai lợn, nem chạo là đến món chính: giò hoa, chả cốm, vịt nhồi, riêu cá chép, chân giò ninh măng... cuối cùng là tráng miệng bằng chè hạt sen. Mâm cao cỗ đầy của chùa Phụng Thánh thường gồm từ 12-18 món, đã bày biện đẹp lại thơm ngon nên nhanh chóng được thực khách đánh hết veo. Thích mắt, no bụng rồi ai cũng suýt xoa: giống y như thật từ hình thức đến mùi vị, mà sao ăn lại có phần ngon hơn cỗ mặn; và tuồng như vẫn chưa hết cơn thèm với những món ăn lạ miệng ấy.
Bên bể nước mưa cạnh gốc cau và khóm hoa mộc, xa xa là đầu đao cong vút của mái chùa; một nếp áo nâu sòng nổi bật giữa ớt đỏ, cà tím, đỗ xanh, khoai tây vàng, đậu phụ trắng… đẹp như tranh. Ni trưởng Thích Đàm Ánh vừa ngồi cẩn thận nhặt, rửa các loại rau, củ, quả, vừa chỉ vẽ cho tôi cách nấu đồ chay.
Nấu cháo nấm đơn giản lắm: gạo tẻ ngon vo sạch, để ráo, đun sôi nước mới đổ gạo vào. Đạy vung nồi, đun lửa liu riu cho cháo nhừ. Nấm hương khô, cắt lấy phần chân, rửa sạch, ngâm nước nóng cho mềm rồi xé nhỏ, lúc cháo sắp nhừ thì cho nước nấm, chân nấm, một ít dầu ăn vào rồi quấy đều. Đun thêm một lúc, nêm gia vị là được nồi cháo sánh và thơm ngon. Trong nghệ thuật nấu ăn của người thường, rau thơm chỉ có tác dụng điểm xuyết thêm mùi, nhưng với thầy, nhiều khi, chỉ một loại rau cũng làm hoán cải cả món ăn. Thì đấy, cũng là gạo và nấm hương, để nguyên là cháo nấm, thêm chút hành và húng Láng thành cháo lòng, bỏ rau răm vào là ra cháo lươn, thay bằng thì là đã hóa ra cháo cá, cháo hến.
- Bạch thầy! Món nem chạo làm thế nào ạ?
- Miến dong chần là bì lợn thái chỉ, mỡ phần là cùi bưởi thái xúc xắc. Bột thính gồm gạo nếp, gạo tẻ thơm, đỗ tương, đỗ xanh rang vàng, xay nhỏ, rây mịn. Trộn đều tất cả, thêm nhúm lá chanh thái chỉ là nổi vị.
Chiêm ngưỡng thầy trổ tài làm bếp, tôi ngộ ra rằng dường như người đang răn mình và giáo hóa chúng sinh qua đường ẩm thực chứ không đơn thuần là nấu nướng.
Nội món đơn giản là xôi vò mà sự kỳ công đã lên bậc thượng thừa. Gạo, đỗ được định tỉ lệ 3/1. Gạo nếp, nếu nấu xôi vò gấc thì ngâm 2 tiếng, xôi vò thô thì ngâm 6 tiếng rồi vo kỹ, vẩy kiệt nước, dùng khăn mỏng lau nhẹ cho khô gạo. Tiếp đó, trộn đều gạo với dầu ăn, muối và riềng với tỉ lệ 1kg gạo/0,1kg riềng cạo sạch vỏ, thái mỏng. Xếp 4-5 chiếc đũa con xuống đáy rồi nhẹ nhàng đổ gạo vào chõ, dàn đều. Nổi lửa, đun tới khi chõ bắt đầu lên hơi, xôi chín đều, không bị vón, hạt xôi mềm mọng mà không nhão. Xôi chín tới, dỡ ngay ra mẹt, rưới nước riềng, ủ chừng dăm phút rồi tãi mỏng. Khi xôi nguội hẳn, đồ lại lần hai rồi tãi ra mẹt hong nguội. Đỗ ngâm 2 tiếng trong nước ấm, đãi sạch vỏ rồi rắc muối, xát ngầu bọt, đãi sạch, vẩy kiệt nước. Đỗ đồ, tãi ra mẹt, để nguội, giã nhỏ rồi trộn với xôi, vò kỹ. Lúc này, hạt xôi mềm và to mọng như con ong non, lại thơm từ trong lòng hạt gạo đến bên ngoài áo đỗ. Xôi chùa Phụng Thánh để được 3 ngày mà ăn vẫn dẻo, thơm. Đi cùng với xôi vò là chè nấu bằng bột củ mã thầy ướp hoa bưởi hay hoa nhài. Bột lọc sạch tinh, chè quấy kỹ, để đến ngày hôm sau vẫn quánh. Xôi như thế, chè như thế, ăn một lần khéo mỗi lúc ngồi nhớ lại, nuốt nước bọt vẫn còn thấy ngọt.
Nhưng lạ hơn cả là món chạch kho tương làm bằng đọt khoai nước. Nói đến loài cây dân dã này, ai sinh ra và lớn lên ở nông thôn chẳng rùng mình bởi nếu vô tình để nhựa nó dây vào người thì ngứa đến phát cuồng. Thế mà lạ thay, dưới bàn tay thầy, chúng lại hiền từ ngự trên bàn ăn nơi cửa Phật. Đọt khoai bỏ cuống, rửa sạch, vẩy kiệt nước, mở ra cho bột đậu xanh vào làm nhân, cuốn chặt lại như cũ, cắt khúc rồi xếp vào nồi. Tiếp đến là một lượt cà chua hoặc quả nhót xé nát. Riềng cạo vỏ, giã nhỏ rắc lên trên cùng rồi đổ tương vào nồi cho sâm sấp, thêm chút mì chính, ít nước lã rồi đun cạn. Thầy bảo: điều tối kỵ là không được đụng đũa vào nồi trong khi đun. Bởi, chọc đũa vào sẽ làm ngưng quá trình giải ngứa của đọt khoai, ăn vào thì ngứa đến xé họng. Món đọt khoai nước giả chạch kho này thịt chắc, thơm, trứng béo, bùi như thật…
Từ ép buộc đến say mê
Chính Ngọ ngày 11/11/1923, khi sinh ra một cái bọc sau 13 tháng mang thai, sau bao năm mong mỏi, bao lễ vật kêu cầu khắp các chùa chiền trong Nam ngoài Bắc, người mẹ mừng rơi nước mắt và đặt tên con là Nguyễn Thị Sàng. Hài nhi ấy quặt quẹo, 3 lần tưởng chết ngạt mà rồi lại sống. “14 tháng tuổi, tôi đã bắt đầu ăn chay” - thầy Đàm Ánh nói. Chả là, cha mẹ bỏ nhau, cô bé được bà ngoại mang về nuôi. Bà mộ đạo Phật, ăn chay trường, thế là cho cháu theo luôn.
10 tuổi, một hôm, có ông thầy tướng số tình cờ đi ngang nhà, thấy Sàng liền phán ngay rằng, căn số này, phải xuất gia mới sống được. Bà ngoại hoảng quá liền lên chùa Âm Hồn - xã Vạn Linh - thị xã Bắc Giang - tỉnh Hà Bắc (nay là TP Bắc Giang - tỉnh Bắc Giang) xin cho cháu được cắt tóc quy y.
Ngày ở nhà, cô bé Sàng đã được bà dạy làm các món ăn chay: dưa muối, gừng ngâm, cà bung… nhưng chỉ đến khi lên ở chùa, ni cô Thích Đàm Ánh (pháp danh) mới thực sự làm quen với chuyện bếp núc. “Những ngày đầu, nhà chùa bắt ăn đậu phụ nhự (chao), nó nặng mùi lắm nên tôi cứ khịt mũi, nhăn mặt rồi chối bai bải. Thấy vậy, sư cụ mới đe: nếu không ăn thì đuổi về. Không lẽ ăn uống mà cứ như cực hình thế này, làm sao để món chao bớt mùi, bát tương thơm, quả cà giòn?...” - thầy nhớ lại.
Các cụ bảo hay ăn thì lăn vào bếp, ni Ánh thì ngược lại, ăn uống khảnh khót, cả ngày chỉ cần một bát cơm, vài lá bún cũng xong. Ấy thế nhưng cô lại thích được bày biện bếp núc. Xưa, thực phẩm nhà chùa thì ngoài đậu phụ, tương, cà và vài loại rau ráo trong vườn, dưới ao là hết chứ có đâu phong phú đồ ta đồ tàu như bây giờ. Đã đành, với các tăng, ni, ăn uống cũng chỉ để lấy sức mà hành đạo, ăn qua bữa thì thôi nên sáng luộc rau, chiều rau luộc cũng không ai phàn nàn. Nhưng ni Ánh nghĩ, có ăn ngon miệng, ăn đủ chất, ăn no thì các thầy mới có sức mà chuyên tâm kinh sách, lao động, hoằng dương Phật pháp, giáo hóa chúng sinh được. Chế biến ra nhiều món lạ, nấu ăn ngon cũng là một cách mình tu tâm dưỡng tính, một cách thờ chữ nhẫn, một phương pháp khám phá bể học mênh mông của đạo, của đời.
Hay lam hay làm, lại có khiếu nội trợ nên mỗi ngày, ni Ánh luôn nghĩ ra các món chay để tập làm. Cây mơ tam thể mọc hoang ngoài bờ rào kia, mùi thì nặng, vị lại chát xít, tưởng sinh ra chỉ để dành cho món mộc tồn của người phàm, ấy thế mà ni Ánh lại mang nó vào bếp nhà Phật được mới tài. Chả là, một buổi làm cỏ vườn, thầy sai nhổ hết loài cây gai góc ấy đi kẻo “thấy vườn chùa có lá mơ, khối người lại cười ruồi và xiên xẹo nghĩ thầy trò ta phá giới không chừng”. Biết là thầy đùa thôi, nhưng mà Ánh vẫn thấy tưng tức. Cây cỏ vô tình, sao lại có thứ riêng của người trần, loại riêng cho nhà Phật. Thế là ni Ánh hái thử một nắm lá mơ mang vào bếp. Thấy người ta vẫn luộc măng nhiều lần cho bớt đắng, cô cũng bỏ nắm lá mơ vào xoong luộc. Lần thứ nhất, nước trong nồi đen kịt, mùi đặc trưng tỏa khắp gian bếp; lần thứ hai, nước nhạt màu hơn, mùi cũng bớt; luộc đến lần thứ ba thì lá mơ chỉ còn màu nhờ nhờ, mùi đặc trưng và vị chát cũng biến mất. Nhìn những chiếc lá mơ mềm chẳng khác nào mộc nhĩ, ni Ánh liền nghĩ ngay đến món giò hoa. Nài tôi nếm thêm một miếng giò rồi thầy cười tủm tỉm: “Thế nào, ai nghĩ lá mơ lại biến thành những khoanh giò chắc và ngọt thế nhỉ”. Tôi gật gù tán thưởng nhưng cũng xin kiếu chứ không thầy bắt nếm hết 10 loại giò, 10 loại chả, 7, 8 thứ nem nữa thì đến vỡ bụng mất!
Nghĩ đến đâu làm đến đấy, dần dà, từ những thứ rau, củ, quả thông thường, đến nay, sau gần 80 năm thi triển công phu qua đường bếp núc, bằng đôi bàn tay tài hoa và óc thẩm mỹ tinh tế, ni trưởng Đàm Ánh đã chế biến thành hơn 200 món ăn hấp dẫn, đã ngạt ngào hương, đậm đà vị, lại hài hòa sắc để rồi ai ăn một lần cũng phải mê mẩn.
Tài biện cỗ của thầy Ánh càng nức tiếng thiên hạ khi mang y bát về trụ trì chùa Phụng Thánh từ năm 1973. Coi sóc ngôi cổ tự hơn 1.000 năm tuổi ở đất Tràng An đệ nhất phong lưu, lại là đệ tử cưng của cư sĩ Thiều Chửu, Pháp chủ Thích Đức Nhuận nên thầy phải làm cỗ bàn đãi khách ở chùa cũng lắm mà lên chùa Quán Sứ - trụ sở của Trung ương giáo hội Phật giáo Việt Nam - tổ chức cỗ bàn tiếp khách đông khách tây cũng nhiều.
“Khó lắm! Thầy miền Nam khẩu vị khác, thầy miền Bắc nết ăn nết ở khác, rồi người ăn đậm người ăn nhạt, người thích đồ xào, người ưa thức nấu… chín người mười ý” - thầy bảo. Nhưng được cái phần nhờ tài thiên bẩm, phần chịu khó tích cóp qua từng năm tháng nên thầy Ánh làm mấy trăm mâm cỗ phục vụ cả nghìn thực khách mỗi ngày mà vẫn đâu vào đấy. Khách vừa được ăn ngon mà cỗ bàn cũng không thừa mứa. Có những dịp lễ trọng của giáo hội, một tay thầy cỗ bàn cả tuần trời mà vẫn nhẹ tựa lông hồng. 76 năm lo việc bếp núc nhà chùa, phục vụ biết bao lượt khách nhưng bữa cỗ chiêu đãi đoàn khách cấp cao Ấn Độ vẫn là kỷ niệm đáng nhớ nhất của thầy. Một ngày trung tuần tháng 10/1954, sau cuộc gặp mặt lịch sử giữa Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phía bạn muốn được thưởng thức một bữa tiệc chay. Ni sư Đàm Ánh được chọn mặt gửi vàng. “Tôi biện mâm cỗ chay với đầy đủ 3 bát, 6 đĩa như một bữa cỗ Việt truyền thống. Tiệc dọn đơn sơ mà ấm cúng trong quang cảnh u tịch của chùa Quán Sứ. Bà Indira Gandhi (con gái Thủ tướng Jawaharlal Nehru, sau này là Thủ tướng Ấn Độ hai nhiệm kỳ: 1966-1977 và 1980-1984 - T.G.) cứ tấm tắc khen món chả cốm làm bằng mộc nhĩ, nấm hương, thịt gà làm từ măng và cá chép sốt chua ngọt chế tác từ hoa chuối bao tử. Ăn xong, thích quá, bà ấy còn xin gói mang về” - thầy hồi tưởng.
Triết lý trên bàn ăn
Ngày đầu tiên gặp lại sau 10 năm xa cách, thầy ung dung tự tại lúc kéo tôi đi chợ chọn mua thực phẩm, khi vào bếp tận tình chỉ dạy từ cách biến quả đu đủ thành con vịt, miếng phù trúc thành khoanh giò lụa, chuyện gia giảm muối, tiêu, hành trong khi đun nấu đến cách thưởng thức một bữa cỗ chay, và quan trọng nhất là triết lý trong mâm cơm của nhà Phật. Suốt từ 4h sáng đến 11h đêm, thầy miệng nói tay làm nhịp nhàng, chu chỉnh dù đã 86 tuổi đời, biện mâm cao cỗ đầy để đãi khách trong khi mình chỉ ăn có 1.000 đồng tiền bánh gio. Thật nể cho tâm, sức của cụ!
Nhắc lại chuyện càn quấy của tôi 10 năm về trước, thầy cười nhân từ rồi ân cần giảng giải: Ăn chay trong quan niệm của nhà Phật là để tránh sát sinh, giúp con người loại bỏ tham, sân, si mà dưỡng pháp thiện, tăng can lành.
- Vậy tại sao các món chay cứ phải bắt chước y hệt món mặn từ hình thức đến mùi vị?
- Thứ nhất là để các sư trổ tài khéo léo, nghiên cẩn, công phu và tâm huyết trong chuyện bếp núc - đấy cũng chính là một đường tu. Thứ hai, ăn món giả mà vẫn ngon như thật thì lâu dần anh có thấy chẳng cần ăn đồ thật vẫn được, phải không? Ăn cỗ chay để di dưỡng Phật tính là ở chỗ ấy.
Miên man sang chuyện thầy nổi tiếng về tài làm cỗ, cụ nhỏ nhẹ: “Tôi làm cỗ không phải để cầu danh mà bởi muốn gìn giữ một phong cách nghệ thuật ẩm thực độc đáo của dân tộc”. Nói về cỗ chay, trước tiên đó là nghệ thuật của thị giác bởi chỉ từ nguyên liệu thực vật, đầu bếp cũng nấu được cả các món mặn để đánh lừa người ăn một cách khéo léo. Người thưởng món chay cũng đang tự đánh lừa mình, bởi thừa biết các món bày ra trên bàn ăn kia hoàn toàn chỉ mang cái tên món ăn chứ nó không phải là thứ mình từng ăn quen thuộc. Đến khi ngồi thưởng thức cỗ chay thì lại là khoảnh khắc của nghệ thuật vị giác, để gật gù nhấm nháp miếng bột dong biển dậy mùi cá thu, miếng hoa chuối bao tử thơm như thịt gà, miếng bột đậu xanh bùi như trứng chạch v.v.. Thức ăn thì giả nhưng tình người, triết lý sống thể hiện qua đó thì mãi dạt dào.
Theo giới luật nghiêm cẩn của nhà Phật, ngày thường, các sư ăn uống đạm bạc tương, cà, rau, đậu là xong, nhưng vào dịp lễ trọng thì chùa nghèo đến mấy cũng phải biện cho được ít mâm cỗ mà cúng Phật và thết đãi chúng sinh. Chả phải để khoe mẽ gì, chẳng qua cũng là theo tâm thức của dân tộc cả thôi, ngày tư ngày tết mà.
Nhà chùa thường biện cỗ chay trong những dịp lễ tết như: lễ Thượng Nguyên, Phật đản, lễ vào hè, ra hè, rằm tháng 7, giỗ tổ... Ngoài ra, khi các gia đình Phật tử muốn đặt cỗ chay cúng Phật, cúng dâng sao giải hạn, cúng các tuần tiết xuân, hạ, nhà chùa cũng thường làm giúp. Thế nên thầy hầu như ni trưởng Đàm Ánh bận bịu quanh năm. Ngày ít thì vài chục mâm, ngày nhiều thì cụ biện cả trăm mâm cỗ để chuyên chở cái tình, cái vị của nhà Phật đến với đông đảo thực khách. Rồi, trong xã hội hiện đại mà cũng lắm tật bệnh do ăn uống vô độ này, cơm chay tự nhiên lại lên ngôi, ăn chay đã và đang trở thành mốt của rất nhiều người lắm tiền nhiều của đã ê hề sơn hào hải vị. Rồi khách du lịch ngoại quốc khi đến Hà Nội cũng rất mong muốn được thưởng thức cỗ chay - như một sản vật độc đáo. Vậy là thầy lại thêm việc, người ta cứ đến đón thầy đi dạy nấu chay cho đầu bếp các nhà hàng, khách sạn sang trọng.
… Cuộc đời ni trưởng Thích Đàm Ánh thật lạ lùng: ăn uống khảnh khót mà lại là một đầu bếp tài hoa; làm cỗ cho cả thiên hạ thưởng thức rồi tấm tắc khen tài mà suốt đời chỉ nghiện có dưa với cà; chẳng qua bất kỳ trường lớp nào mà rồi đi hơn chục nước, làm thầy ẩm thực cho cả ngàn người; thầy ơi, bao giờ con khám phá được hết sự vi diệu trong nghệ thuật bếp núc của người?
Hà thành đệ nhất cỗ chay
Như một cơ duyên, ngày tôi trở về cũng là hôm chùa có việc, thầy làm lễ cúng thất tuần cho người dì quá cố. Nghĩa là thêm một dịp thầy đích thân thi triển công phu qua từng món ăn. Hôm ấy, thầy làm ba chục mâm cỗ chay vừa cúng vừa đãi đằng bà con họ hàng đi tới 3 xe ô tô 16 chỗ ngồi nô nức từ Bắc Giang kéo xuống chốn già lam nằm hút cuối ngõ Cống Trắng - phố Khâm Thiên - phường Trung Phụng - quận Đống Đa - TP. Hà Nội. Ba chục mâm cỗ chả thấm vào đâu so với những lần thầy biện cả trăm mâm mỗi ngày để đãi khách vào những dịp lễ trọng: rằm tháng Giêng, lễ Vu Lan báo hiếu, giỗ tổ, đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc, đại lễ Phật đản thế giới tại Việt Nam… Nhưng, một hay trăm món cũng vậy, thầy luôn để vào đó tất cả sự tâm huyết. Tuồng như với thầy, nấu cỗ chay cũng là một đường tu.
Từ mấy chục năm nay, ngày nào cũng vậy, cứ 3h sáng là thầy tỉnh giấc, thiền định đến 4h thì ra khỏi giường và bắt đầu một ngày tất bật việc đạo, việc đời. Sáng nay, chùa có việc nên thầy phải đi chợ sớm. Để yên cho các đệ tử ngon giấc, thầy khẽ khàng lách mình qua cửa, đi bộ ra đầu ngõ, bắt một chiếc xe ôm lên thẳng chợ Bắc Qua - chợ đầu mối nông sản lớn nhất đất Hà thành.
Dạo khắp chợ, vừa hỏi han cha mẹ, con cái người này, chuyện mớ rau, cân quả với người khác, thầy vừa nhanh tay chọn từng cọng hành, củ khoai tây, súp lơ, cân phù trúc… Vốn tính tằn tiện, lại quen lối sống khổ hạnh của người tu hành, hễ lần nào làm cỗ bàn, thầy đều phải cất công lên đây mua thực phẩm, là chợ bán buôn nên rau, củ, quả vừa tươi, ngon, lại rẻ hơn các nơi khác vài giá. Thầy chọn mua hàng thì kỹ lắm, hàng giập, hàng xấu thì đừng hòng lọt lưới đã đành, ngay cả những thứ đã tươi ngon rồi, người cũng còn suy xét chán rồi mới quyết định: “Hôm nay làm đậu phụ nên mua đỗ này thì dôi; để hôm khác mua loại hạt nhỏ thì làm tương mới thơm và được nước”. Còn “đây là mộc nhĩ Nam, to, mua để gói giò thì được chứ để xào nấu thì chốc nữa ra đầu chợ mua hàng Bắc của chị Tân Đan Phượng, loại ấy nhỏ, đen nhưng giòn và thơm lắm”…
Vồn vã chuyện trò, nhanh nhảu bán mua, chừng 5h sáng, thầy và những tải thực phẩm nghễu nghện về đến chùa thì mấy ni, vãi già mới tỉnh giấc. Ngồi xuống một góc quen thuộc nơi chiếc chiếu trải ở góc trái hành lang tam bảo, thầy pha một ấm trà sen ngồi nhâm nhi, nghỉ lấy sức rồi gọi các đệ tử lên cắt đặt công việc trong ngày. Hương sen làm buổi sáng thêm tinh khiết. Lối nói chuyện hay pha trò cùng điệu cười hấp háy thường trực làm người đối diện không dám nghĩ là thầy đã 86 tuổi, lại đang vật lộn với đủ thứ bệnh.
Cỗ chay chùa Phụng Thánh do thầy Đàm Ánh trổ tài thao lược từ nấu nướng đến bày biện thì vô cùng phong phú. Sáu người đủ đóng đủ mâm. Một xoong nhỏ được bưng lên, mở vung, hương thơm ngào ngạt lan tỏa làm ai nấy đều hít hà. Đó là món khai vị: cháo nấm. Vừa vặn mỗi người được một bát, khói bốc nghi ngút, múc một thìa cháo đặc sánh, hương thơm dịu của nấm, gạo len ngay vào mũi. Thìa cháo vào đến miệng, đầu lưỡi tê đi vì nóng, nuốt một miếng nhỏ, ôi thôi, vị béo, bùi đã đánh gục con tì, con vị của ta rồi. Hết món phụ: nộm hoa chuối tai lợn, nem chạo là đến món chính: giò hoa, chả cốm, vịt nhồi, riêu cá chép, chân giò ninh măng... cuối cùng là tráng miệng bằng chè hạt sen. Mâm cao cỗ đầy của chùa Phụng Thánh thường gồm từ 12-18 món, đã bày biện đẹp lại thơm ngon nên nhanh chóng được thực khách đánh hết veo. Thích mắt, no bụng rồi ai cũng suýt xoa: giống y như thật từ hình thức đến mùi vị, mà sao ăn lại có phần ngon hơn cỗ mặn; và tuồng như vẫn chưa hết cơn thèm với những món ăn lạ miệng ấy.
Bên bể nước mưa cạnh gốc cau và khóm hoa mộc, xa xa là đầu đao cong vút của mái chùa; một nếp áo nâu sòng nổi bật giữa ớt đỏ, cà tím, đỗ xanh, khoai tây vàng, đậu phụ trắng… đẹp như tranh. Ni trưởng Thích Đàm Ánh vừa ngồi cẩn thận nhặt, rửa các loại rau, củ, quả, vừa chỉ vẽ cho tôi cách nấu đồ chay.
Nấu cháo nấm đơn giản lắm: gạo tẻ ngon vo sạch, để ráo, đun sôi nước mới đổ gạo vào. Đạy vung nồi, đun lửa liu riu cho cháo nhừ. Nấm hương khô, cắt lấy phần chân, rửa sạch, ngâm nước nóng cho mềm rồi xé nhỏ, lúc cháo sắp nhừ thì cho nước nấm, chân nấm, một ít dầu ăn vào rồi quấy đều. Đun thêm một lúc, nêm gia vị là được nồi cháo sánh và thơm ngon. Trong nghệ thuật nấu ăn của người thường, rau thơm chỉ có tác dụng điểm xuyết thêm mùi, nhưng với thầy, nhiều khi, chỉ một loại rau cũng làm hoán cải cả món ăn. Thì đấy, cũng là gạo và nấm hương, để nguyên là cháo nấm, thêm chút hành và húng Láng thành cháo lòng, bỏ rau răm vào là ra cháo lươn, thay bằng thì là đã hóa ra cháo cá, cháo hến.
- Bạch thầy! Món nem chạo làm thế nào ạ?
- Miến dong chần là bì lợn thái chỉ, mỡ phần là cùi bưởi thái xúc xắc. Bột thính gồm gạo nếp, gạo tẻ thơm, đỗ tương, đỗ xanh rang vàng, xay nhỏ, rây mịn. Trộn đều tất cả, thêm nhúm lá chanh thái chỉ là nổi vị.
Chiêm ngưỡng thầy trổ tài làm bếp, tôi ngộ ra rằng dường như người đang răn mình và giáo hóa chúng sinh qua đường ẩm thực chứ không đơn thuần là nấu nướng.
Nội món đơn giản là xôi vò mà sự kỳ công đã lên bậc thượng thừa. Gạo, đỗ được định tỉ lệ 3/1. Gạo nếp, nếu nấu xôi vò gấc thì ngâm 2 tiếng, xôi vò thô thì ngâm 6 tiếng rồi vo kỹ, vẩy kiệt nước, dùng khăn mỏng lau nhẹ cho khô gạo. Tiếp đó, trộn đều gạo với dầu ăn, muối và riềng với tỉ lệ 1kg gạo/0,1kg riềng cạo sạch vỏ, thái mỏng. Xếp 4-5 chiếc đũa con xuống đáy rồi nhẹ nhàng đổ gạo vào chõ, dàn đều. Nổi lửa, đun tới khi chõ bắt đầu lên hơi, xôi chín đều, không bị vón, hạt xôi mềm mọng mà không nhão. Xôi chín tới, dỡ ngay ra mẹt, rưới nước riềng, ủ chừng dăm phút rồi tãi mỏng. Khi xôi nguội hẳn, đồ lại lần hai rồi tãi ra mẹt hong nguội. Đỗ ngâm 2 tiếng trong nước ấm, đãi sạch vỏ rồi rắc muối, xát ngầu bọt, đãi sạch, vẩy kiệt nước. Đỗ đồ, tãi ra mẹt, để nguội, giã nhỏ rồi trộn với xôi, vò kỹ. Lúc này, hạt xôi mềm và to mọng như con ong non, lại thơm từ trong lòng hạt gạo đến bên ngoài áo đỗ. Xôi chùa Phụng Thánh để được 3 ngày mà ăn vẫn dẻo, thơm. Đi cùng với xôi vò là chè nấu bằng bột củ mã thầy ướp hoa bưởi hay hoa nhài. Bột lọc sạch tinh, chè quấy kỹ, để đến ngày hôm sau vẫn quánh. Xôi như thế, chè như thế, ăn một lần khéo mỗi lúc ngồi nhớ lại, nuốt nước bọt vẫn còn thấy ngọt.
Nhưng lạ hơn cả là món chạch kho tương làm bằng đọt khoai nước. Nói đến loài cây dân dã này, ai sinh ra và lớn lên ở nông thôn chẳng rùng mình bởi nếu vô tình để nhựa nó dây vào người thì ngứa đến phát cuồng. Thế mà lạ thay, dưới bàn tay thầy, chúng lại hiền từ ngự trên bàn ăn nơi cửa Phật. Đọt khoai bỏ cuống, rửa sạch, vẩy kiệt nước, mở ra cho bột đậu xanh vào làm nhân, cuốn chặt lại như cũ, cắt khúc rồi xếp vào nồi. Tiếp đến là một lượt cà chua hoặc quả nhót xé nát. Riềng cạo vỏ, giã nhỏ rắc lên trên cùng rồi đổ tương vào nồi cho sâm sấp, thêm chút mì chính, ít nước lã rồi đun cạn. Thầy bảo: điều tối kỵ là không được đụng đũa vào nồi trong khi đun. Bởi, chọc đũa vào sẽ làm ngưng quá trình giải ngứa của đọt khoai, ăn vào thì ngứa đến xé họng. Món đọt khoai nước giả chạch kho này thịt chắc, thơm, trứng béo, bùi như thật…
Từ ép buộc đến say mê
Chính Ngọ ngày 11/11/1923, khi sinh ra một cái bọc sau 13 tháng mang thai, sau bao năm mong mỏi, bao lễ vật kêu cầu khắp các chùa chiền trong Nam ngoài Bắc, người mẹ mừng rơi nước mắt và đặt tên con là Nguyễn Thị Sàng. Hài nhi ấy quặt quẹo, 3 lần tưởng chết ngạt mà rồi lại sống. “14 tháng tuổi, tôi đã bắt đầu ăn chay” - thầy Đàm Ánh nói. Chả là, cha mẹ bỏ nhau, cô bé được bà ngoại mang về nuôi. Bà mộ đạo Phật, ăn chay trường, thế là cho cháu theo luôn.
10 tuổi, một hôm, có ông thầy tướng số tình cờ đi ngang nhà, thấy Sàng liền phán ngay rằng, căn số này, phải xuất gia mới sống được. Bà ngoại hoảng quá liền lên chùa Âm Hồn - xã Vạn Linh - thị xã Bắc Giang - tỉnh Hà Bắc (nay là TP Bắc Giang - tỉnh Bắc Giang) xin cho cháu được cắt tóc quy y.
Ngày ở nhà, cô bé Sàng đã được bà dạy làm các món ăn chay: dưa muối, gừng ngâm, cà bung… nhưng chỉ đến khi lên ở chùa, ni cô Thích Đàm Ánh (pháp danh) mới thực sự làm quen với chuyện bếp núc. “Những ngày đầu, nhà chùa bắt ăn đậu phụ nhự (chao), nó nặng mùi lắm nên tôi cứ khịt mũi, nhăn mặt rồi chối bai bải. Thấy vậy, sư cụ mới đe: nếu không ăn thì đuổi về. Không lẽ ăn uống mà cứ như cực hình thế này, làm sao để món chao bớt mùi, bát tương thơm, quả cà giòn?...” - thầy nhớ lại.
Các cụ bảo hay ăn thì lăn vào bếp, ni Ánh thì ngược lại, ăn uống khảnh khót, cả ngày chỉ cần một bát cơm, vài lá bún cũng xong. Ấy thế nhưng cô lại thích được bày biện bếp núc. Xưa, thực phẩm nhà chùa thì ngoài đậu phụ, tương, cà và vài loại rau ráo trong vườn, dưới ao là hết chứ có đâu phong phú đồ ta đồ tàu như bây giờ. Đã đành, với các tăng, ni, ăn uống cũng chỉ để lấy sức mà hành đạo, ăn qua bữa thì thôi nên sáng luộc rau, chiều rau luộc cũng không ai phàn nàn. Nhưng ni Ánh nghĩ, có ăn ngon miệng, ăn đủ chất, ăn no thì các thầy mới có sức mà chuyên tâm kinh sách, lao động, hoằng dương Phật pháp, giáo hóa chúng sinh được. Chế biến ra nhiều món lạ, nấu ăn ngon cũng là một cách mình tu tâm dưỡng tính, một cách thờ chữ nhẫn, một phương pháp khám phá bể học mênh mông của đạo, của đời.
Hay lam hay làm, lại có khiếu nội trợ nên mỗi ngày, ni Ánh luôn nghĩ ra các món chay để tập làm. Cây mơ tam thể mọc hoang ngoài bờ rào kia, mùi thì nặng, vị lại chát xít, tưởng sinh ra chỉ để dành cho món mộc tồn của người phàm, ấy thế mà ni Ánh lại mang nó vào bếp nhà Phật được mới tài. Chả là, một buổi làm cỏ vườn, thầy sai nhổ hết loài cây gai góc ấy đi kẻo “thấy vườn chùa có lá mơ, khối người lại cười ruồi và xiên xẹo nghĩ thầy trò ta phá giới không chừng”. Biết là thầy đùa thôi, nhưng mà Ánh vẫn thấy tưng tức. Cây cỏ vô tình, sao lại có thứ riêng của người trần, loại riêng cho nhà Phật. Thế là ni Ánh hái thử một nắm lá mơ mang vào bếp. Thấy người ta vẫn luộc măng nhiều lần cho bớt đắng, cô cũng bỏ nắm lá mơ vào xoong luộc. Lần thứ nhất, nước trong nồi đen kịt, mùi đặc trưng tỏa khắp gian bếp; lần thứ hai, nước nhạt màu hơn, mùi cũng bớt; luộc đến lần thứ ba thì lá mơ chỉ còn màu nhờ nhờ, mùi đặc trưng và vị chát cũng biến mất. Nhìn những chiếc lá mơ mềm chẳng khác nào mộc nhĩ, ni Ánh liền nghĩ ngay đến món giò hoa. Nài tôi nếm thêm một miếng giò rồi thầy cười tủm tỉm: “Thế nào, ai nghĩ lá mơ lại biến thành những khoanh giò chắc và ngọt thế nhỉ”. Tôi gật gù tán thưởng nhưng cũng xin kiếu chứ không thầy bắt nếm hết 10 loại giò, 10 loại chả, 7, 8 thứ nem nữa thì đến vỡ bụng mất!
Nghĩ đến đâu làm đến đấy, dần dà, từ những thứ rau, củ, quả thông thường, đến nay, sau gần 80 năm thi triển công phu qua đường bếp núc, bằng đôi bàn tay tài hoa và óc thẩm mỹ tinh tế, ni trưởng Đàm Ánh đã chế biến thành hơn 200 món ăn hấp dẫn, đã ngạt ngào hương, đậm đà vị, lại hài hòa sắc để rồi ai ăn một lần cũng phải mê mẩn.
Tài biện cỗ của thầy Ánh càng nức tiếng thiên hạ khi mang y bát về trụ trì chùa Phụng Thánh từ năm 1973. Coi sóc ngôi cổ tự hơn 1.000 năm tuổi ở đất Tràng An đệ nhất phong lưu, lại là đệ tử cưng của cư sĩ Thiều Chửu, Pháp chủ Thích Đức Nhuận nên thầy phải làm cỗ bàn đãi khách ở chùa cũng lắm mà lên chùa Quán Sứ - trụ sở của Trung ương giáo hội Phật giáo Việt Nam - tổ chức cỗ bàn tiếp khách đông khách tây cũng nhiều.
“Khó lắm! Thầy miền Nam khẩu vị khác, thầy miền Bắc nết ăn nết ở khác, rồi người ăn đậm người ăn nhạt, người thích đồ xào, người ưa thức nấu… chín người mười ý” - thầy bảo. Nhưng được cái phần nhờ tài thiên bẩm, phần chịu khó tích cóp qua từng năm tháng nên thầy Ánh làm mấy trăm mâm cỗ phục vụ cả nghìn thực khách mỗi ngày mà vẫn đâu vào đấy. Khách vừa được ăn ngon mà cỗ bàn cũng không thừa mứa. Có những dịp lễ trọng của giáo hội, một tay thầy cỗ bàn cả tuần trời mà vẫn nhẹ tựa lông hồng. 76 năm lo việc bếp núc nhà chùa, phục vụ biết bao lượt khách nhưng bữa cỗ chiêu đãi đoàn khách cấp cao Ấn Độ vẫn là kỷ niệm đáng nhớ nhất của thầy. Một ngày trung tuần tháng 10/1954, sau cuộc gặp mặt lịch sử giữa Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phía bạn muốn được thưởng thức một bữa tiệc chay. Ni sư Đàm Ánh được chọn mặt gửi vàng. “Tôi biện mâm cỗ chay với đầy đủ 3 bát, 6 đĩa như một bữa cỗ Việt truyền thống. Tiệc dọn đơn sơ mà ấm cúng trong quang cảnh u tịch của chùa Quán Sứ. Bà Indira Gandhi (con gái Thủ tướng Jawaharlal Nehru, sau này là Thủ tướng Ấn Độ hai nhiệm kỳ: 1966-1977 và 1980-1984 - T.G.) cứ tấm tắc khen món chả cốm làm bằng mộc nhĩ, nấm hương, thịt gà làm từ măng và cá chép sốt chua ngọt chế tác từ hoa chuối bao tử. Ăn xong, thích quá, bà ấy còn xin gói mang về” - thầy hồi tưởng.
Triết lý trên bàn ăn
Ngày đầu tiên gặp lại sau 10 năm xa cách, thầy ung dung tự tại lúc kéo tôi đi chợ chọn mua thực phẩm, khi vào bếp tận tình chỉ dạy từ cách biến quả đu đủ thành con vịt, miếng phù trúc thành khoanh giò lụa, chuyện gia giảm muối, tiêu, hành trong khi đun nấu đến cách thưởng thức một bữa cỗ chay, và quan trọng nhất là triết lý trong mâm cơm của nhà Phật. Suốt từ 4h sáng đến 11h đêm, thầy miệng nói tay làm nhịp nhàng, chu chỉnh dù đã 86 tuổi đời, biện mâm cao cỗ đầy để đãi khách trong khi mình chỉ ăn có 1.000 đồng tiền bánh gio. Thật nể cho tâm, sức của cụ!
Nhắc lại chuyện càn quấy của tôi 10 năm về trước, thầy cười nhân từ rồi ân cần giảng giải: Ăn chay trong quan niệm của nhà Phật là để tránh sát sinh, giúp con người loại bỏ tham, sân, si mà dưỡng pháp thiện, tăng can lành.
- Vậy tại sao các món chay cứ phải bắt chước y hệt món mặn từ hình thức đến mùi vị?
- Thứ nhất là để các sư trổ tài khéo léo, nghiên cẩn, công phu và tâm huyết trong chuyện bếp núc - đấy cũng chính là một đường tu. Thứ hai, ăn món giả mà vẫn ngon như thật thì lâu dần anh có thấy chẳng cần ăn đồ thật vẫn được, phải không? Ăn cỗ chay để di dưỡng Phật tính là ở chỗ ấy.
Miên man sang chuyện thầy nổi tiếng về tài làm cỗ, cụ nhỏ nhẹ: “Tôi làm cỗ không phải để cầu danh mà bởi muốn gìn giữ một phong cách nghệ thuật ẩm thực độc đáo của dân tộc”. Nói về cỗ chay, trước tiên đó là nghệ thuật của thị giác bởi chỉ từ nguyên liệu thực vật, đầu bếp cũng nấu được cả các món mặn để đánh lừa người ăn một cách khéo léo. Người thưởng món chay cũng đang tự đánh lừa mình, bởi thừa biết các món bày ra trên bàn ăn kia hoàn toàn chỉ mang cái tên món ăn chứ nó không phải là thứ mình từng ăn quen thuộc. Đến khi ngồi thưởng thức cỗ chay thì lại là khoảnh khắc của nghệ thuật vị giác, để gật gù nhấm nháp miếng bột dong biển dậy mùi cá thu, miếng hoa chuối bao tử thơm như thịt gà, miếng bột đậu xanh bùi như trứng chạch v.v.. Thức ăn thì giả nhưng tình người, triết lý sống thể hiện qua đó thì mãi dạt dào.
Theo giới luật nghiêm cẩn của nhà Phật, ngày thường, các sư ăn uống đạm bạc tương, cà, rau, đậu là xong, nhưng vào dịp lễ trọng thì chùa nghèo đến mấy cũng phải biện cho được ít mâm cỗ mà cúng Phật và thết đãi chúng sinh. Chả phải để khoe mẽ gì, chẳng qua cũng là theo tâm thức của dân tộc cả thôi, ngày tư ngày tết mà.
Nhà chùa thường biện cỗ chay trong những dịp lễ tết như: lễ Thượng Nguyên, Phật đản, lễ vào hè, ra hè, rằm tháng 7, giỗ tổ... Ngoài ra, khi các gia đình Phật tử muốn đặt cỗ chay cúng Phật, cúng dâng sao giải hạn, cúng các tuần tiết xuân, hạ, nhà chùa cũng thường làm giúp. Thế nên thầy hầu như ni trưởng Đàm Ánh bận bịu quanh năm. Ngày ít thì vài chục mâm, ngày nhiều thì cụ biện cả trăm mâm cỗ để chuyên chở cái tình, cái vị của nhà Phật đến với đông đảo thực khách. Rồi, trong xã hội hiện đại mà cũng lắm tật bệnh do ăn uống vô độ này, cơm chay tự nhiên lại lên ngôi, ăn chay đã và đang trở thành mốt của rất nhiều người lắm tiền nhiều của đã ê hề sơn hào hải vị. Rồi khách du lịch ngoại quốc khi đến Hà Nội cũng rất mong muốn được thưởng thức cỗ chay - như một sản vật độc đáo. Vậy là thầy lại thêm việc, người ta cứ đến đón thầy đi dạy nấu chay cho đầu bếp các nhà hàng, khách sạn sang trọng.
… Cuộc đời ni trưởng Thích Đàm Ánh thật lạ lùng: ăn uống khảnh khót mà lại là một đầu bếp tài hoa; làm cỗ cho cả thiên hạ thưởng thức rồi tấm tắc khen tài mà suốt đời chỉ nghiện có dưa với cà; chẳng qua bất kỳ trường lớp nào mà rồi đi hơn chục nước, làm thầy ẩm thực cho cả ngàn người; thầy ơi, bao giờ con khám phá được hết sự vi diệu trong nghệ thuật bếp núc của người?
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)