Đỗ Trung Lai
Người ấy như là mẹ ta
Lo từng miếng cơm ngụm nước
Ta dẫm phải gai mùng tơi
Người ấy buốt vào tận ruột!
Người ấy như là chị ta
Không cần biết ta được, mất
Thấy ta mặt ủ mày sầu
Thì lén co khăn thấm mắt!
Người ấy như là em ta
Ta lỡ một lời khinh xuất
Thì buồn suốt mấy tuần liền
Mặc kệ bờ xôi ruộng mật!
Người ấy như người ta yêu
Tiễn ta lên tàu ra trận
Rồi quay về nhà lấy chồng
Để ta phương trời lận đận!
Người ấy như người yêu ta
Trời cũng chưa là to nhất
Thấy ta bắt đầu bất công
Thì đứng về phe nước mắt!
Người ấy như là trò ta
Coi lời ta như pháp luật
Thấy ta lành lặn trở về
Thì chân đi không bén đất!
Người ấy như là bạn ta
Ba năm không nhìn thấy mặt
Nhưng ta gặp vận hạn gì
Thì đến cùng ta sớm nhất!
Người ấy như là vợ ta
Xinh xắn, dịu dàng, chân thật
Thấy ta về nhà đúng giờ
Thì tươi hơn đào, hơn quất!
Người ấy càng như vợ ta
Bình thường là đường là mật
Tam bành đã nổi lên rồi
Thì vua cũng là cục đất.
Ngần ấy người ấy đâu rồi!
Sao không cùng về họp mặt?
Lâu lâu mới gặp một người
Thì giờ trôi đi chán ngắt!
Ngần ấy người ấy đâu rồi!
Ngoài đường đã đầy tết nhất
Nói dại, ngần ấy cùng về
Cầm chắc là ta tan xác!
Thứ Tư, 2 tháng 9, 2009
Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2009
Gọi tên là biết Sài Gòn
Ngày 1-2-1865, phó đô đốc Pierre Paul Marie de la Grandière (1807-1876) của nhà cầm quyền Pháp tiến hành đặt tên cho 26 con đường trên địa bàn thành phố Sài Gòn vốn trước đó chỉ được đánh số thứ tự.
Trải qua 311 năm xây dựng và phát triển, Sài Gòn - TPHCM hiện có hơn 1.500 con đường lớn, nhỏ và từ lâu đã rối như canh hẹ bởi chuyện đường trùng tên, thiếu tên đặt cho đường. Nguyên nhân thì nhiều, nhưng có một điểm trọng yếu là chúng ta không mặn mà với những tên gọi gắn liền với lịch sử, văn hóa của vùng đất mình đang sinh sống.
Đường xưa lối cũ
Đường Mã Lộ nằm trên địa bàn phường Tân Định, Q.1, dài chừng 120m, lộ giới 14m, bắt đầu từ đường Nguyễn Hữu Cầu đến đường Bà Lê Chân. Đường này ngắn nhưng thuộc loại rất xưa của vùng Sài Gòn, có từ khi xây cất chợ Tân Định, năm 1928. Thời Pháp thuộc, đường này mang tên Lê Văn Duyệt. Từ ngày 16-10-1955, chính quyền Sài Gòn đổi là đường Mã Lộ và được dùng cho đến ngày nay.
Con đường này nằm phía sau chợ Tân Định. Ngày xưa chưa có các loại xe lam, xích lô, ba gác thì phương tiện đi lại chủ yếu để người ta đi lại và chuyên chở hàng hóa là xe ngựa. Những chiếc xe thổ mộ lóc cóc từ các vùng ngoại ô: Hóc Môn, Bình Chánh, Gò Vấp, Tân Bình… chở người và hàng về chợ bán mua. Sau khi đổ hàng, xuống khách, các xà ích cho xe ngựa tập trung ở một đoạn đường sau chợ cho ngựa nghỉ chân, ăn cỏ, uống nước, người tranh thủ chợp mắt hay túm năm tụm ba trò chuyện, chờ chợ tan lại đón hàng và người về. Lâu dần, đoạn đường này được gọi bằng cái tên thân thuộc: Mã Lộ (đường của ngựa).
Ở Q.3 có một con đường mà khi gọi tên ta đã nghe giăng mắc ô thửa, đó là đường Bàn Cờ, chạy từ đường Nguyễn Đình Chiểu đến đường Điện Biên Phủ, thuộc địa bàn phường 2 và 3, dài khoảng 460m. Lịch sử tên gọi đường này cũng rất độc đáo. Năm 1910, dưới thời Pháp thuộc, TP Sài Gòn được mở rộng về phía tây. Khu đất phía trong đường Nguyễn Thiện Thuật được quy hoạch, xẻ ngang, vạch dọc như bàn cờ để phân cho dân chúng xây nhà. Thấy đường sá ở đây cắt ô như bàn cờ tướng, người ta liền gọi là khu Bàn Cờ. Con đường chính băng qua khu này mặc nhiên được gọi là đường Bàn Cờ. Theo truyền văn thì khi mới làm tuyến đường sắt Sài Gòn - Mỹ Tho đặt ga đầu ở khu này. Đầu máy về tới đây, muốn quay lại để đi xuống Mỹ Tho, phải trướn lên một cái mâm hình tròn, quay trên một trục vững chắc để công nhân đẩy xoay đầu lại. Cái mâm ấy gọi là bàn cờ. Đường chạy qua khu có cái mâm ấy được gọi là đường Bàn Cờ.
Ở Q.4 có một đường mang tên nghề gắn liền với giấc ngủ của con người từ xưa đến nay: đường Xóm Chiếu. Con đường thuộc địa phận phường 15 và 16, dài 905m này mang tên một địa danh của đất Gia Định xưa, có từ đời vua Minh Mạng (1884). Chả là, từ thời Gia Long, vùng này chỉ có thôn Khánh Hội và Bình Ý nằm gần kinh Bến Nghé và sông Sài Gòn. Phía trong toàn bưng sình, mọc đầy cây bàng (thảo câu) và lác. Tận dụng nguồn nguyên liệu này, dân chúng quy tụ thành một xóm làm nghề dệt chiếu và lập chợ để bán. Từ đó, tên Xóm Chiếu ra đời.
Cũng thuộc ngạch đường mang tên nghề nghiệp của người dân sở tại, ở Q.5 có đường Xóm Cải (thuộc địa bàn phường 11, dài 125m, chạy từ đường Nguyễn Trãi đến đường Mạc Thiên Tích; Xóm Cải là địa danh của đất Chợ Lớn xưa kia, là nơi cư ngụ của những người chuyên nghề trồng rau cải để bán), Xóm Chỉ (thuộc địa bàn phường 10, từ đường Phan Phù Tiên đến đường Tản Đà, dài khoảng 118m; Xóm Chỉ là địa danh của đất Chợ Lớn (cũ), xưa kia, dân vùng này chuyên làm nghề kéo chỉ), Xóm Vôi (địa danh cũ của đất Gia Định, nơi có người dân lập thành xóm chuyên chở đá xanh từ vùng Hà Tiên lên để nung vôi bán cho người ta xây dựng, ăn trầu), Q.6 có đường Lò Gốm, quận Tân Bình có đường Vườn Lài (dân sở tại trồng cây hoa lài (nhài) để ướp trà, Q.9 có đường Lò Lu, huyện Củ Chi có đường Xóm Thuốc (thuốc lá để hút)...
Ai có tâm hồn ăn uống, nhắc đến tên đường Vườn Thơm, thuộc xã Lê Minh Xuân và Bình Lợi, huyện Bình Chánh, chắc phải tứa nước miếng. Quả vậy, dưới thời Pháp thuộc, đây là một đồn điền bạt ngàn thơm (dứa).
Ở tỉnh Chợ Lớn cũ có một vùng kênh rạch chằng chịt, ghe thuyền đi lại tấp nập. Dân trong vùng trồng rất nhiều cây sao để lấy gỗ đóng ghe, thuyền. Hằng năm, từ tháng 12 đến tháng 4, là mùa cây sao ra bông, đậu quả, không biết cơ man nào mà kể. Mỗi cơn gió thoảng qua, bứt bông sao khỏi cành thổi bay lơ lửng trên không trung một hồi rồi mới rơi xuống rải đầy mặt đất, mặt nước, trông đẹp như tiên cảnh. Thế là người dân lấy tên Bông Sao để gọi con đường chạy qua vùng. Nay đường này thuộc P.4, Q.8.
Chỉ về sự ấm no thì ở P.15, Q.8 có đường Mễ Cốc, dài 2.350m, lộ giới 20m. Mễ Cốc nguyên là một kho lúa, sau thành địa danh. Nghe tên đường, ta đã gợi nhớ đến vùng đồng bằng Nam Bộ, vựa lúa của miền Nam. Từ ngày một số người Hoa không phục nhà Thanh, qua đây xin chúa Nguyễn cho lập nghiệp ở vùng Chợ Lớn, lúa được xuất khẩu sang các nước Đông Nam Á. Rồi từ ngày người Pháp lập cảng Sài Gòn thì vùng này mỗi ngày có hàng trăm ghe, thuyền từ các tỉnh miền Tây đổ về Chợ Lớn, lúa được bốc lên các kho, vựa trên bến để rồi chuyển đến các nhà máy xay xát. Thế là bến mang tên Mễ Cốc (bến lúa gạo).
Để gợi nhớ thưở đất rộng người thưa, ta hãy về xã Phước Thạnh, huyện Củ Chi tản bộ trên đường Mít Nài dài 1.500m. Mít nài là giống mít mọc hoang dại ở ven rừng, có trái na ná mít vườn nhưng không ăn được, gỗ chỉ dùng làm củi. Xã Phước Thạnh trước đây cả thế kỷ chỉ là rừng, mít nài mọc hoang vô kể. Cũng trên địa bàn huyện Củ Chi, có những tên đường mà khi gọi lên ta đã thấy thiên nhiên gần gụi: Cây Bài (xã Phước Vĩnh An), Cây Điệp (xã Nhuận Đức), Cây Gõ (xã An Phú), Cây Trắc (xã Phú Hòa Đông), Cây Trôm (xã Phước Hiệp, Thái Mỹ).
Ai yêu chim muông, mời về xã Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh đi trên con đường dài khoảng 6.000m thỏa thê nghe tiếng le le lội nước và ngắm cánh cò bay lả bay la. Đường tên là Láng Le - Bàu Cò mà! Đây là địa danh cũ của tỉnh Gia Định chỉ một vùng đất sũng nước, nơi cư ngụ của cơ man nào là le le và cò. Đường Hố Bò ở xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi thì nhắc ta rằng thời xa xưa, vùng này sâu trũng, cây cối rậm rạp, là nơi nương náu của rất nhiều loài bò rừng.
Để trí tưởng tượng bay xa hơn nữa, mời bạn đến đường Gò Cẩm Đệm ở P.10, quận Tân Bình. Sở dĩ con đường dài 840m, lộ giới 12m này mang tên vậy là do nơi đây xưa kia là một gò đất cao, rộng 3 dặm, nằm phía sau Giác Lâm cổ tự, thuộc địa phận xã Phú Thọ Hòa, huyện Bình Dương. Khi xưa trên gò, cỏ thơm mọc dày như trải đệm, cây cao bóng mát tỏa như lọng che nên dân chúng gọi tên là gò Cẩm Đệm rồi thành địa danh, từ ngày 13-7-1999 thì là tên đường.
Đất Sài Gòn - Gia Định rộng lớn, người hào sảng mà tâm hồn mơ mộng nên cũng luôn là đất văn chương thi phú. Điều ấy ghi dấu ở tên đường Bình Dương Thi Xã, P.5, Q.1 mang tên một hội thơ nổi tiếng và bề thế nhất tại huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định hồi đầu thế kỷ XIX. Nổi danh nhất của thi xã này là 3 danh sĩ: Trịnh Hoài Đức (chủ hội), Lê Quang Định và Ngô Nhơn Tịnh mà đương thời gọi là Gia Định tam gia…
Quyến rũ chừng… 10%
Tôi ngồi tỉ mẩn đếm đếm tính tính theo các tài liệu về tên đường ở TPHCM, quỹ tên đường của Hội đồng đặt mới, sửa đổi tên đường, công viên, quảng trường và công trình công cộng TPHCM thì thấy một con số đáng báo động, những tên đường độc đáo, thân thuộc, gọi là biết ngay Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định như kể trên chỉ chiếm chừng 10%.
Trong khi đó, xưa nay, chúng ta quá say sưa với những tên nhân vật lịch sử. Tất nhiên, việc tôn vinh công đức của tiền nhân là điều cần thiết, nhưng cũng đừng hồn nhiên nghĩ rằng cứ đặt tên một con đường, xây dựng một tượng đài thì chắc chắn sẽ làm được việc giáo dục truyền thống.
Có một chuyện nhỏ diễn ra đã dăm năm rồi nhưng vẫn làm tôi mỉm cười mỗi khi nhớ lại. Lần ấy, Alain Thomas - bạn tôi - từ Pháp sang. Theo bản năng, đến bữa, tôi dẫn anh đến một nhà hàng Pháp thuộc loại sang ở thành phố. Tưởng anh sẽ vui lắm khi có một người bạn Việt Nam chiều chuộng mình, đến một nơi xa lạ mà vẫn được sống trong không khí quê nhà. Ai dè, anh chối đây đẩy và nằng nặc đòi tôi dẫn đến một quán vỉa hè. Và chúng tôi đã ngồi bên hồ Con Rùa uống bia Sài Gòn xanh, ăn bò bía và tán chuyện hăng say về vùng đất của tôi. Alain bảo đó mới là điều thích thú “chứ sang đây mà vẫn ăn đồ Pháp, nói chuyện nước Pháp thì tôi ở nhà cho xong”.
Trở lại chuyện tên đường cũng vậy. Đến mỗi địa phương, đi trên những con đường mang đậm dấu tích văn hóa của vùng đất, con người nơi ấy, chắc chắn chúng ta thấy thú vị hơn rất nhiều khi gặp những tên đường mà ở đâu cũng có.
Chẳng hạn, ở Sài Gòn, 146 năm trước, me là cây đầu tiên được người Pháp mang trồng ở hai bên đường. Hầu hết các con đường trên địa bàn thành phố đều có bóng me; me đã là nhạc, là thơ, là hơi thở của người dân xứ này! Đến Sài Gòn mà được tản bộ trên con đường mang tên Lá Me Bay và giơ tay bắt những lá me chao trong gió, nếm vị giôn giốt của trái me thì thật là ấn tượng đặc biệt. Ai biết ở TPHCM, từ giữa tháng 5, trái dầu rái bứt khỏi cành, tạo thành những chiếc chong chóng xoay tít khắp phố phường để mơ về một con đường mang tên Dầu Rái?
Cũng vậy, nếu chúng ta cởi mở và lãng mạn hơn, trên những nẻo đường đất Việt sẽ có những tên đường, phố độc đáo, gắn với những sản vật của địa phương như: đường Hoa Ban ở Điện Biên, phố Hoàng Lan ở Hà Nội, đường Phượng Bay (từ cảm hứng trong những chiều đi trên đường này, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã viết “Đường phượng bay mù không lối vào” (Mưa hồng) ở Huế… là một nét thi vị và luyến nhớ cho cả dân địa phương và du khách. Đồng cảm với chúng tôi về vấn đề này, TS khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu - Phó tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TPHCM chia sẻ: “Theo tôi, nên lưu giữ những địa danh dân gian để đặt tên đường phố hay tên đơn vị hành chính mới trong quá trình đô thị hóa. Dân gian hay đặt tên cho một khu vực nào đó theo đặc điểm về tự nhiên hay truyền thuyết của khu vực ấy, hoặc cũng hay gọi một cách không chính thức nhưng lại dễ nhớ, dễ tìm. Vì vậy, tên các loài cây, hoa - nếu là đặc điểm, đặc trưng của một khu vực, một con đường, một ngõ hẻm... rất nên dùng để đặt tên cho khu vực, đường, hẻm ấy. Nó sẽ làm cho người dân trân trọng và gìn giữ các loài cây, hoa đó, góp phần bảo vệ môi trường, tạo nên nét đẹp văn hóa đa dạng của TP. Những giá trị văn hóa vật thể như thế qua thời gian sẽ lắng đọng, trở thành di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của từng địa phương”.
Cũng theo bà, trong các khu đô thị mới hiện nay, cần khuyến khích người dân trồng các loại cây, hoa làm đẹp, mang lại bóng mát cũng như mảng xanh cho thành phố. Và cũng rất hay nếu như đặt tên đường, khu phố mới theo tên các loài thực vật đó.
... Biết đâu chừng, một ngày, giữa Sài Gòn ồn ã, kẻ lãng đãng là tôi lại được tủm tỉm nhắn nhe lũ bạn rằng: «Nhà tôi ở hẻm Cây Điệp, đường Chiêu Liêu. Sáng sáng, sau khi tản bộ trên đường Nhạc Ngựa, tôi đến đường Đủng Đỉnh uống cà phê rồi về làm việc ở đường Long Não»...
Box:
- Năm 2008, Hội đồng thị trấn Dartford, London, Anh đã phê chuẩn đặt tên 13 đường phố trong một khu dân cư mới xây dựng lấy cảm hứng từ tên các ca khúc của ban nhạc Rolling Stones như: Sympathy Street (cảm hứng từ ca khúc Sympathy for the devil), Cloud Close (từ ca khúc Get off of my cloud), Rainbow Close (She’s a rainbow), Babylon Close (Bridges to babylon), Dandelion Row (Dandelion), Ruby Tuesday Drive (Ruby Tuesday)...
- Nếu chúng ta cởi mở và lãng mạn hơn, trên những nẻo đường đất Việt sẽ có những tên đường, phố độc đáo, gắn với những sản vật của địa phương.
- Đến mỗi địa phương, đi trên những con đường mang đậm dấu tích văn hóa của vùng đất, con người nơi ấy, chắc chắn chúng ta thấy thú vị hơn rất nhiều khi gặp những tên đường mà ở đâu cũng có.
Hàn Mai tự, TPHCM, 19-8-2009
Trải qua 311 năm xây dựng và phát triển, Sài Gòn - TPHCM hiện có hơn 1.500 con đường lớn, nhỏ và từ lâu đã rối như canh hẹ bởi chuyện đường trùng tên, thiếu tên đặt cho đường. Nguyên nhân thì nhiều, nhưng có một điểm trọng yếu là chúng ta không mặn mà với những tên gọi gắn liền với lịch sử, văn hóa của vùng đất mình đang sinh sống.
Đường xưa lối cũ
Đường Mã Lộ nằm trên địa bàn phường Tân Định, Q.1, dài chừng 120m, lộ giới 14m, bắt đầu từ đường Nguyễn Hữu Cầu đến đường Bà Lê Chân. Đường này ngắn nhưng thuộc loại rất xưa của vùng Sài Gòn, có từ khi xây cất chợ Tân Định, năm 1928. Thời Pháp thuộc, đường này mang tên Lê Văn Duyệt. Từ ngày 16-10-1955, chính quyền Sài Gòn đổi là đường Mã Lộ và được dùng cho đến ngày nay.
Con đường này nằm phía sau chợ Tân Định. Ngày xưa chưa có các loại xe lam, xích lô, ba gác thì phương tiện đi lại chủ yếu để người ta đi lại và chuyên chở hàng hóa là xe ngựa. Những chiếc xe thổ mộ lóc cóc từ các vùng ngoại ô: Hóc Môn, Bình Chánh, Gò Vấp, Tân Bình… chở người và hàng về chợ bán mua. Sau khi đổ hàng, xuống khách, các xà ích cho xe ngựa tập trung ở một đoạn đường sau chợ cho ngựa nghỉ chân, ăn cỏ, uống nước, người tranh thủ chợp mắt hay túm năm tụm ba trò chuyện, chờ chợ tan lại đón hàng và người về. Lâu dần, đoạn đường này được gọi bằng cái tên thân thuộc: Mã Lộ (đường của ngựa).
Ở Q.3 có một con đường mà khi gọi tên ta đã nghe giăng mắc ô thửa, đó là đường Bàn Cờ, chạy từ đường Nguyễn Đình Chiểu đến đường Điện Biên Phủ, thuộc địa bàn phường 2 và 3, dài khoảng 460m. Lịch sử tên gọi đường này cũng rất độc đáo. Năm 1910, dưới thời Pháp thuộc, TP Sài Gòn được mở rộng về phía tây. Khu đất phía trong đường Nguyễn Thiện Thuật được quy hoạch, xẻ ngang, vạch dọc như bàn cờ để phân cho dân chúng xây nhà. Thấy đường sá ở đây cắt ô như bàn cờ tướng, người ta liền gọi là khu Bàn Cờ. Con đường chính băng qua khu này mặc nhiên được gọi là đường Bàn Cờ. Theo truyền văn thì khi mới làm tuyến đường sắt Sài Gòn - Mỹ Tho đặt ga đầu ở khu này. Đầu máy về tới đây, muốn quay lại để đi xuống Mỹ Tho, phải trướn lên một cái mâm hình tròn, quay trên một trục vững chắc để công nhân đẩy xoay đầu lại. Cái mâm ấy gọi là bàn cờ. Đường chạy qua khu có cái mâm ấy được gọi là đường Bàn Cờ.
Ở Q.4 có một đường mang tên nghề gắn liền với giấc ngủ của con người từ xưa đến nay: đường Xóm Chiếu. Con đường thuộc địa phận phường 15 và 16, dài 905m này mang tên một địa danh của đất Gia Định xưa, có từ đời vua Minh Mạng (1884). Chả là, từ thời Gia Long, vùng này chỉ có thôn Khánh Hội và Bình Ý nằm gần kinh Bến Nghé và sông Sài Gòn. Phía trong toàn bưng sình, mọc đầy cây bàng (thảo câu) và lác. Tận dụng nguồn nguyên liệu này, dân chúng quy tụ thành một xóm làm nghề dệt chiếu và lập chợ để bán. Từ đó, tên Xóm Chiếu ra đời.
Cũng thuộc ngạch đường mang tên nghề nghiệp của người dân sở tại, ở Q.5 có đường Xóm Cải (thuộc địa bàn phường 11, dài 125m, chạy từ đường Nguyễn Trãi đến đường Mạc Thiên Tích; Xóm Cải là địa danh của đất Chợ Lớn xưa kia, là nơi cư ngụ của những người chuyên nghề trồng rau cải để bán), Xóm Chỉ (thuộc địa bàn phường 10, từ đường Phan Phù Tiên đến đường Tản Đà, dài khoảng 118m; Xóm Chỉ là địa danh của đất Chợ Lớn (cũ), xưa kia, dân vùng này chuyên làm nghề kéo chỉ), Xóm Vôi (địa danh cũ của đất Gia Định, nơi có người dân lập thành xóm chuyên chở đá xanh từ vùng Hà Tiên lên để nung vôi bán cho người ta xây dựng, ăn trầu), Q.6 có đường Lò Gốm, quận Tân Bình có đường Vườn Lài (dân sở tại trồng cây hoa lài (nhài) để ướp trà, Q.9 có đường Lò Lu, huyện Củ Chi có đường Xóm Thuốc (thuốc lá để hút)...
Ai có tâm hồn ăn uống, nhắc đến tên đường Vườn Thơm, thuộc xã Lê Minh Xuân và Bình Lợi, huyện Bình Chánh, chắc phải tứa nước miếng. Quả vậy, dưới thời Pháp thuộc, đây là một đồn điền bạt ngàn thơm (dứa).
Ở tỉnh Chợ Lớn cũ có một vùng kênh rạch chằng chịt, ghe thuyền đi lại tấp nập. Dân trong vùng trồng rất nhiều cây sao để lấy gỗ đóng ghe, thuyền. Hằng năm, từ tháng 12 đến tháng 4, là mùa cây sao ra bông, đậu quả, không biết cơ man nào mà kể. Mỗi cơn gió thoảng qua, bứt bông sao khỏi cành thổi bay lơ lửng trên không trung một hồi rồi mới rơi xuống rải đầy mặt đất, mặt nước, trông đẹp như tiên cảnh. Thế là người dân lấy tên Bông Sao để gọi con đường chạy qua vùng. Nay đường này thuộc P.4, Q.8.
Chỉ về sự ấm no thì ở P.15, Q.8 có đường Mễ Cốc, dài 2.350m, lộ giới 20m. Mễ Cốc nguyên là một kho lúa, sau thành địa danh. Nghe tên đường, ta đã gợi nhớ đến vùng đồng bằng Nam Bộ, vựa lúa của miền Nam. Từ ngày một số người Hoa không phục nhà Thanh, qua đây xin chúa Nguyễn cho lập nghiệp ở vùng Chợ Lớn, lúa được xuất khẩu sang các nước Đông Nam Á. Rồi từ ngày người Pháp lập cảng Sài Gòn thì vùng này mỗi ngày có hàng trăm ghe, thuyền từ các tỉnh miền Tây đổ về Chợ Lớn, lúa được bốc lên các kho, vựa trên bến để rồi chuyển đến các nhà máy xay xát. Thế là bến mang tên Mễ Cốc (bến lúa gạo).
Để gợi nhớ thưở đất rộng người thưa, ta hãy về xã Phước Thạnh, huyện Củ Chi tản bộ trên đường Mít Nài dài 1.500m. Mít nài là giống mít mọc hoang dại ở ven rừng, có trái na ná mít vườn nhưng không ăn được, gỗ chỉ dùng làm củi. Xã Phước Thạnh trước đây cả thế kỷ chỉ là rừng, mít nài mọc hoang vô kể. Cũng trên địa bàn huyện Củ Chi, có những tên đường mà khi gọi lên ta đã thấy thiên nhiên gần gụi: Cây Bài (xã Phước Vĩnh An), Cây Điệp (xã Nhuận Đức), Cây Gõ (xã An Phú), Cây Trắc (xã Phú Hòa Đông), Cây Trôm (xã Phước Hiệp, Thái Mỹ).
Ai yêu chim muông, mời về xã Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh đi trên con đường dài khoảng 6.000m thỏa thê nghe tiếng le le lội nước và ngắm cánh cò bay lả bay la. Đường tên là Láng Le - Bàu Cò mà! Đây là địa danh cũ của tỉnh Gia Định chỉ một vùng đất sũng nước, nơi cư ngụ của cơ man nào là le le và cò. Đường Hố Bò ở xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi thì nhắc ta rằng thời xa xưa, vùng này sâu trũng, cây cối rậm rạp, là nơi nương náu của rất nhiều loài bò rừng.
Để trí tưởng tượng bay xa hơn nữa, mời bạn đến đường Gò Cẩm Đệm ở P.10, quận Tân Bình. Sở dĩ con đường dài 840m, lộ giới 12m này mang tên vậy là do nơi đây xưa kia là một gò đất cao, rộng 3 dặm, nằm phía sau Giác Lâm cổ tự, thuộc địa phận xã Phú Thọ Hòa, huyện Bình Dương. Khi xưa trên gò, cỏ thơm mọc dày như trải đệm, cây cao bóng mát tỏa như lọng che nên dân chúng gọi tên là gò Cẩm Đệm rồi thành địa danh, từ ngày 13-7-1999 thì là tên đường.
Đất Sài Gòn - Gia Định rộng lớn, người hào sảng mà tâm hồn mơ mộng nên cũng luôn là đất văn chương thi phú. Điều ấy ghi dấu ở tên đường Bình Dương Thi Xã, P.5, Q.1 mang tên một hội thơ nổi tiếng và bề thế nhất tại huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định hồi đầu thế kỷ XIX. Nổi danh nhất của thi xã này là 3 danh sĩ: Trịnh Hoài Đức (chủ hội), Lê Quang Định và Ngô Nhơn Tịnh mà đương thời gọi là Gia Định tam gia…
Quyến rũ chừng… 10%
Tôi ngồi tỉ mẩn đếm đếm tính tính theo các tài liệu về tên đường ở TPHCM, quỹ tên đường của Hội đồng đặt mới, sửa đổi tên đường, công viên, quảng trường và công trình công cộng TPHCM thì thấy một con số đáng báo động, những tên đường độc đáo, thân thuộc, gọi là biết ngay Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định như kể trên chỉ chiếm chừng 10%.
Trong khi đó, xưa nay, chúng ta quá say sưa với những tên nhân vật lịch sử. Tất nhiên, việc tôn vinh công đức của tiền nhân là điều cần thiết, nhưng cũng đừng hồn nhiên nghĩ rằng cứ đặt tên một con đường, xây dựng một tượng đài thì chắc chắn sẽ làm được việc giáo dục truyền thống.
Có một chuyện nhỏ diễn ra đã dăm năm rồi nhưng vẫn làm tôi mỉm cười mỗi khi nhớ lại. Lần ấy, Alain Thomas - bạn tôi - từ Pháp sang. Theo bản năng, đến bữa, tôi dẫn anh đến một nhà hàng Pháp thuộc loại sang ở thành phố. Tưởng anh sẽ vui lắm khi có một người bạn Việt Nam chiều chuộng mình, đến một nơi xa lạ mà vẫn được sống trong không khí quê nhà. Ai dè, anh chối đây đẩy và nằng nặc đòi tôi dẫn đến một quán vỉa hè. Và chúng tôi đã ngồi bên hồ Con Rùa uống bia Sài Gòn xanh, ăn bò bía và tán chuyện hăng say về vùng đất của tôi. Alain bảo đó mới là điều thích thú “chứ sang đây mà vẫn ăn đồ Pháp, nói chuyện nước Pháp thì tôi ở nhà cho xong”.
Trở lại chuyện tên đường cũng vậy. Đến mỗi địa phương, đi trên những con đường mang đậm dấu tích văn hóa của vùng đất, con người nơi ấy, chắc chắn chúng ta thấy thú vị hơn rất nhiều khi gặp những tên đường mà ở đâu cũng có.
Chẳng hạn, ở Sài Gòn, 146 năm trước, me là cây đầu tiên được người Pháp mang trồng ở hai bên đường. Hầu hết các con đường trên địa bàn thành phố đều có bóng me; me đã là nhạc, là thơ, là hơi thở của người dân xứ này! Đến Sài Gòn mà được tản bộ trên con đường mang tên Lá Me Bay và giơ tay bắt những lá me chao trong gió, nếm vị giôn giốt của trái me thì thật là ấn tượng đặc biệt. Ai biết ở TPHCM, từ giữa tháng 5, trái dầu rái bứt khỏi cành, tạo thành những chiếc chong chóng xoay tít khắp phố phường để mơ về một con đường mang tên Dầu Rái?
Cũng vậy, nếu chúng ta cởi mở và lãng mạn hơn, trên những nẻo đường đất Việt sẽ có những tên đường, phố độc đáo, gắn với những sản vật của địa phương như: đường Hoa Ban ở Điện Biên, phố Hoàng Lan ở Hà Nội, đường Phượng Bay (từ cảm hứng trong những chiều đi trên đường này, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã viết “Đường phượng bay mù không lối vào” (Mưa hồng) ở Huế… là một nét thi vị và luyến nhớ cho cả dân địa phương và du khách. Đồng cảm với chúng tôi về vấn đề này, TS khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu - Phó tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TPHCM chia sẻ: “Theo tôi, nên lưu giữ những địa danh dân gian để đặt tên đường phố hay tên đơn vị hành chính mới trong quá trình đô thị hóa. Dân gian hay đặt tên cho một khu vực nào đó theo đặc điểm về tự nhiên hay truyền thuyết của khu vực ấy, hoặc cũng hay gọi một cách không chính thức nhưng lại dễ nhớ, dễ tìm. Vì vậy, tên các loài cây, hoa - nếu là đặc điểm, đặc trưng của một khu vực, một con đường, một ngõ hẻm... rất nên dùng để đặt tên cho khu vực, đường, hẻm ấy. Nó sẽ làm cho người dân trân trọng và gìn giữ các loài cây, hoa đó, góp phần bảo vệ môi trường, tạo nên nét đẹp văn hóa đa dạng của TP. Những giá trị văn hóa vật thể như thế qua thời gian sẽ lắng đọng, trở thành di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của từng địa phương”.
Cũng theo bà, trong các khu đô thị mới hiện nay, cần khuyến khích người dân trồng các loại cây, hoa làm đẹp, mang lại bóng mát cũng như mảng xanh cho thành phố. Và cũng rất hay nếu như đặt tên đường, khu phố mới theo tên các loài thực vật đó.
... Biết đâu chừng, một ngày, giữa Sài Gòn ồn ã, kẻ lãng đãng là tôi lại được tủm tỉm nhắn nhe lũ bạn rằng: «Nhà tôi ở hẻm Cây Điệp, đường Chiêu Liêu. Sáng sáng, sau khi tản bộ trên đường Nhạc Ngựa, tôi đến đường Đủng Đỉnh uống cà phê rồi về làm việc ở đường Long Não»...
Box:
- Năm 2008, Hội đồng thị trấn Dartford, London, Anh đã phê chuẩn đặt tên 13 đường phố trong một khu dân cư mới xây dựng lấy cảm hứng từ tên các ca khúc của ban nhạc Rolling Stones như: Sympathy Street (cảm hứng từ ca khúc Sympathy for the devil), Cloud Close (từ ca khúc Get off of my cloud), Rainbow Close (She’s a rainbow), Babylon Close (Bridges to babylon), Dandelion Row (Dandelion), Ruby Tuesday Drive (Ruby Tuesday)...
- Nếu chúng ta cởi mở và lãng mạn hơn, trên những nẻo đường đất Việt sẽ có những tên đường, phố độc đáo, gắn với những sản vật của địa phương.
- Đến mỗi địa phương, đi trên những con đường mang đậm dấu tích văn hóa của vùng đất, con người nơi ấy, chắc chắn chúng ta thấy thú vị hơn rất nhiều khi gặp những tên đường mà ở đâu cũng có.
Hàn Mai tự, TPHCM, 19-8-2009
Chủ Nhật, 16 tháng 8, 2009
Thứ Hai, 13 tháng 7, 2009
Bệnh hoắng
Biết tiếng bà này nuôi hơn 300 em nhỏ mồ côi, tàn tật... thích quá, đội nắng chạy xuống Dĩ An, Bình Dương, hi vọng được xúc động.
Xuống tới nơi, cảm giác đầu tiên là chán. Đâu đâu cũng thấy tên bà ấy được đắp, vẽ, ảnh bà ấy chụp với các lãnh đạo, bằng khen, giấy khen... treo khắp phòng. Chả thấy sự hiện diện của những nhân vật chính - những thiên thần nhỏ. Vừa gặp, chưa gì bà ấy đã nổ tung trời, kể lể về bản thân đủ điều. Mình chán quá, ra khỏi phòng, đi lòng vòng thăm các cháu nhỏ một lúc rồi về. Buồn thiu. Thất vọng.
Xuống tới nơi, cảm giác đầu tiên là chán. Đâu đâu cũng thấy tên bà ấy được đắp, vẽ, ảnh bà ấy chụp với các lãnh đạo, bằng khen, giấy khen... treo khắp phòng. Chả thấy sự hiện diện của những nhân vật chính - những thiên thần nhỏ. Vừa gặp, chưa gì bà ấy đã nổ tung trời, kể lể về bản thân đủ điều. Mình chán quá, ra khỏi phòng, đi lòng vòng thăm các cháu nhỏ một lúc rồi về. Buồn thiu. Thất vọng.
Thứ Tư, 27 tháng 5, 2009
Bếp núc chân tu
Mười năm trước, ăn bữa cỗ chay đầu tiên trong một ngôi cổ tự mà thấy có cả chả chìa, giò bò, mực hấp v.v., gã ngông cuồng là tôi mới xiên xẹo nghĩ rằng các tăng, ni xuất gia mà vẫn lưu luyến đời sống phàm tục nên làm món chay mà cứ phải bắt chước sao cho thật giống từ hình dạng đến mùi vị của các món mặn, thế thì tu sao cho đặng. Nghe điều chướng tai ấy từ miệng một đệ tử mới, sư thầy chủ tiệc chỉ cười nhân từ rồi bảo: “Anh cứ trải đời đi đã. Lúc nào ngộ thì quay lại tìm tôi, thầy trò mình đàm đạo chuyện cơm chay”. 10 năm, chưa đủ để hiểu đời, nhưng càng bầm dập sau những lần lên thác xuống ghềnh, tôi càng thấm lời Phật dạy: sắc sắc không không. Vậy là, tôi quày quả trở về tìm ni trưởng Thích Đàm Ánh.
Hà thành đệ nhất cỗ chay
Như một cơ duyên, ngày tôi trở về cũng là hôm chùa có việc, thầy làm lễ cúng thất tuần cho người dì quá cố. Nghĩa là thêm một dịp thầy đích thân thi triển công phu qua từng món ăn. Hôm ấy, thầy làm ba chục mâm cỗ chay vừa cúng vừa đãi đằng bà con họ hàng đi tới 3 xe ô tô 16 chỗ ngồi nô nức từ Bắc Giang kéo xuống chốn già lam nằm hút cuối ngõ Cống Trắng - phố Khâm Thiên - phường Trung Phụng - quận Đống Đa - TP. Hà Nội. Ba chục mâm cỗ chả thấm vào đâu so với những lần thầy biện cả trăm mâm mỗi ngày để đãi khách vào những dịp lễ trọng: rằm tháng Giêng, lễ Vu Lan báo hiếu, giỗ tổ, đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc, đại lễ Phật đản thế giới tại Việt Nam… Nhưng, một hay trăm món cũng vậy, thầy luôn để vào đó tất cả sự tâm huyết. Tuồng như với thầy, nấu cỗ chay cũng là một đường tu.
Từ mấy chục năm nay, ngày nào cũng vậy, cứ 3h sáng là thầy tỉnh giấc, thiền định đến 4h thì ra khỏi giường và bắt đầu một ngày tất bật việc đạo, việc đời. Sáng nay, chùa có việc nên thầy phải đi chợ sớm. Để yên cho các đệ tử ngon giấc, thầy khẽ khàng lách mình qua cửa, đi bộ ra đầu ngõ, bắt một chiếc xe ôm lên thẳng chợ Bắc Qua - chợ đầu mối nông sản lớn nhất đất Hà thành.
Dạo khắp chợ, vừa hỏi han cha mẹ, con cái người này, chuyện mớ rau, cân quả với người khác, thầy vừa nhanh tay chọn từng cọng hành, củ khoai tây, súp lơ, cân phù trúc… Vốn tính tằn tiện, lại quen lối sống khổ hạnh của người tu hành, hễ lần nào làm cỗ bàn, thầy đều phải cất công lên đây mua thực phẩm, là chợ bán buôn nên rau, củ, quả vừa tươi, ngon, lại rẻ hơn các nơi khác vài giá. Thầy chọn mua hàng thì kỹ lắm, hàng giập, hàng xấu thì đừng hòng lọt lưới đã đành, ngay cả những thứ đã tươi ngon rồi, người cũng còn suy xét chán rồi mới quyết định: “Hôm nay làm đậu phụ nên mua đỗ này thì dôi; để hôm khác mua loại hạt nhỏ thì làm tương mới thơm và được nước”. Còn “đây là mộc nhĩ Nam, to, mua để gói giò thì được chứ để xào nấu thì chốc nữa ra đầu chợ mua hàng Bắc của chị Tân Đan Phượng, loại ấy nhỏ, đen nhưng giòn và thơm lắm”…
Vồn vã chuyện trò, nhanh nhảu bán mua, chừng 5h sáng, thầy và những tải thực phẩm nghễu nghện về đến chùa thì mấy ni, vãi già mới tỉnh giấc. Ngồi xuống một góc quen thuộc nơi chiếc chiếu trải ở góc trái hành lang tam bảo, thầy pha một ấm trà sen ngồi nhâm nhi, nghỉ lấy sức rồi gọi các đệ tử lên cắt đặt công việc trong ngày. Hương sen làm buổi sáng thêm tinh khiết. Lối nói chuyện hay pha trò cùng điệu cười hấp háy thường trực làm người đối diện không dám nghĩ là thầy đã 86 tuổi, lại đang vật lộn với đủ thứ bệnh.
Cỗ chay chùa Phụng Thánh do thầy Đàm Ánh trổ tài thao lược từ nấu nướng đến bày biện thì vô cùng phong phú. Sáu người đủ đóng đủ mâm. Một xoong nhỏ được bưng lên, mở vung, hương thơm ngào ngạt lan tỏa làm ai nấy đều hít hà. Đó là món khai vị: cháo nấm. Vừa vặn mỗi người được một bát, khói bốc nghi ngút, múc một thìa cháo đặc sánh, hương thơm dịu của nấm, gạo len ngay vào mũi. Thìa cháo vào đến miệng, đầu lưỡi tê đi vì nóng, nuốt một miếng nhỏ, ôi thôi, vị béo, bùi đã đánh gục con tì, con vị của ta rồi. Hết món phụ: nộm hoa chuối tai lợn, nem chạo là đến món chính: giò hoa, chả cốm, vịt nhồi, riêu cá chép, chân giò ninh măng... cuối cùng là tráng miệng bằng chè hạt sen. Mâm cao cỗ đầy của chùa Phụng Thánh thường gồm từ 12-18 món, đã bày biện đẹp lại thơm ngon nên nhanh chóng được thực khách đánh hết veo. Thích mắt, no bụng rồi ai cũng suýt xoa: giống y như thật từ hình thức đến mùi vị, mà sao ăn lại có phần ngon hơn cỗ mặn; và tuồng như vẫn chưa hết cơn thèm với những món ăn lạ miệng ấy.
Bên bể nước mưa cạnh gốc cau và khóm hoa mộc, xa xa là đầu đao cong vút của mái chùa; một nếp áo nâu sòng nổi bật giữa ớt đỏ, cà tím, đỗ xanh, khoai tây vàng, đậu phụ trắng… đẹp như tranh. Ni trưởng Thích Đàm Ánh vừa ngồi cẩn thận nhặt, rửa các loại rau, củ, quả, vừa chỉ vẽ cho tôi cách nấu đồ chay.
Nấu cháo nấm đơn giản lắm: gạo tẻ ngon vo sạch, để ráo, đun sôi nước mới đổ gạo vào. Đạy vung nồi, đun lửa liu riu cho cháo nhừ. Nấm hương khô, cắt lấy phần chân, rửa sạch, ngâm nước nóng cho mềm rồi xé nhỏ, lúc cháo sắp nhừ thì cho nước nấm, chân nấm, một ít dầu ăn vào rồi quấy đều. Đun thêm một lúc, nêm gia vị là được nồi cháo sánh và thơm ngon. Trong nghệ thuật nấu ăn của người thường, rau thơm chỉ có tác dụng điểm xuyết thêm mùi, nhưng với thầy, nhiều khi, chỉ một loại rau cũng làm hoán cải cả món ăn. Thì đấy, cũng là gạo và nấm hương, để nguyên là cháo nấm, thêm chút hành và húng Láng thành cháo lòng, bỏ rau răm vào là ra cháo lươn, thay bằng thì là đã hóa ra cháo cá, cháo hến.
- Bạch thầy! Món nem chạo làm thế nào ạ?
- Miến dong chần là bì lợn thái chỉ, mỡ phần là cùi bưởi thái xúc xắc. Bột thính gồm gạo nếp, gạo tẻ thơm, đỗ tương, đỗ xanh rang vàng, xay nhỏ, rây mịn. Trộn đều tất cả, thêm nhúm lá chanh thái chỉ là nổi vị.
Chiêm ngưỡng thầy trổ tài làm bếp, tôi ngộ ra rằng dường như người đang răn mình và giáo hóa chúng sinh qua đường ẩm thực chứ không đơn thuần là nấu nướng.
Nội món đơn giản là xôi vò mà sự kỳ công đã lên bậc thượng thừa. Gạo, đỗ được định tỉ lệ 3/1. Gạo nếp, nếu nấu xôi vò gấc thì ngâm 2 tiếng, xôi vò thô thì ngâm 6 tiếng rồi vo kỹ, vẩy kiệt nước, dùng khăn mỏng lau nhẹ cho khô gạo. Tiếp đó, trộn đều gạo với dầu ăn, muối và riềng với tỉ lệ 1kg gạo/0,1kg riềng cạo sạch vỏ, thái mỏng. Xếp 4-5 chiếc đũa con xuống đáy rồi nhẹ nhàng đổ gạo vào chõ, dàn đều. Nổi lửa, đun tới khi chõ bắt đầu lên hơi, xôi chín đều, không bị vón, hạt xôi mềm mọng mà không nhão. Xôi chín tới, dỡ ngay ra mẹt, rưới nước riềng, ủ chừng dăm phút rồi tãi mỏng. Khi xôi nguội hẳn, đồ lại lần hai rồi tãi ra mẹt hong nguội. Đỗ ngâm 2 tiếng trong nước ấm, đãi sạch vỏ rồi rắc muối, xát ngầu bọt, đãi sạch, vẩy kiệt nước. Đỗ đồ, tãi ra mẹt, để nguội, giã nhỏ rồi trộn với xôi, vò kỹ. Lúc này, hạt xôi mềm và to mọng như con ong non, lại thơm từ trong lòng hạt gạo đến bên ngoài áo đỗ. Xôi chùa Phụng Thánh để được 3 ngày mà ăn vẫn dẻo, thơm. Đi cùng với xôi vò là chè nấu bằng bột củ mã thầy ướp hoa bưởi hay hoa nhài. Bột lọc sạch tinh, chè quấy kỹ, để đến ngày hôm sau vẫn quánh. Xôi như thế, chè như thế, ăn một lần khéo mỗi lúc ngồi nhớ lại, nuốt nước bọt vẫn còn thấy ngọt.
Nhưng lạ hơn cả là món chạch kho tương làm bằng đọt khoai nước. Nói đến loài cây dân dã này, ai sinh ra và lớn lên ở nông thôn chẳng rùng mình bởi nếu vô tình để nhựa nó dây vào người thì ngứa đến phát cuồng. Thế mà lạ thay, dưới bàn tay thầy, chúng lại hiền từ ngự trên bàn ăn nơi cửa Phật. Đọt khoai bỏ cuống, rửa sạch, vẩy kiệt nước, mở ra cho bột đậu xanh vào làm nhân, cuốn chặt lại như cũ, cắt khúc rồi xếp vào nồi. Tiếp đến là một lượt cà chua hoặc quả nhót xé nát. Riềng cạo vỏ, giã nhỏ rắc lên trên cùng rồi đổ tương vào nồi cho sâm sấp, thêm chút mì chính, ít nước lã rồi đun cạn. Thầy bảo: điều tối kỵ là không được đụng đũa vào nồi trong khi đun. Bởi, chọc đũa vào sẽ làm ngưng quá trình giải ngứa của đọt khoai, ăn vào thì ngứa đến xé họng. Món đọt khoai nước giả chạch kho này thịt chắc, thơm, trứng béo, bùi như thật…
Từ ép buộc đến say mê
Chính Ngọ ngày 11/11/1923, khi sinh ra một cái bọc sau 13 tháng mang thai, sau bao năm mong mỏi, bao lễ vật kêu cầu khắp các chùa chiền trong Nam ngoài Bắc, người mẹ mừng rơi nước mắt và đặt tên con là Nguyễn Thị Sàng. Hài nhi ấy quặt quẹo, 3 lần tưởng chết ngạt mà rồi lại sống. “14 tháng tuổi, tôi đã bắt đầu ăn chay” - thầy Đàm Ánh nói. Chả là, cha mẹ bỏ nhau, cô bé được bà ngoại mang về nuôi. Bà mộ đạo Phật, ăn chay trường, thế là cho cháu theo luôn.
10 tuổi, một hôm, có ông thầy tướng số tình cờ đi ngang nhà, thấy Sàng liền phán ngay rằng, căn số này, phải xuất gia mới sống được. Bà ngoại hoảng quá liền lên chùa Âm Hồn - xã Vạn Linh - thị xã Bắc Giang - tỉnh Hà Bắc (nay là TP Bắc Giang - tỉnh Bắc Giang) xin cho cháu được cắt tóc quy y.
Ngày ở nhà, cô bé Sàng đã được bà dạy làm các món ăn chay: dưa muối, gừng ngâm, cà bung… nhưng chỉ đến khi lên ở chùa, ni cô Thích Đàm Ánh (pháp danh) mới thực sự làm quen với chuyện bếp núc. “Những ngày đầu, nhà chùa bắt ăn đậu phụ nhự (chao), nó nặng mùi lắm nên tôi cứ khịt mũi, nhăn mặt rồi chối bai bải. Thấy vậy, sư cụ mới đe: nếu không ăn thì đuổi về. Không lẽ ăn uống mà cứ như cực hình thế này, làm sao để món chao bớt mùi, bát tương thơm, quả cà giòn?...” - thầy nhớ lại.
Các cụ bảo hay ăn thì lăn vào bếp, ni Ánh thì ngược lại, ăn uống khảnh khót, cả ngày chỉ cần một bát cơm, vài lá bún cũng xong. Ấy thế nhưng cô lại thích được bày biện bếp núc. Xưa, thực phẩm nhà chùa thì ngoài đậu phụ, tương, cà và vài loại rau ráo trong vườn, dưới ao là hết chứ có đâu phong phú đồ ta đồ tàu như bây giờ. Đã đành, với các tăng, ni, ăn uống cũng chỉ để lấy sức mà hành đạo, ăn qua bữa thì thôi nên sáng luộc rau, chiều rau luộc cũng không ai phàn nàn. Nhưng ni Ánh nghĩ, có ăn ngon miệng, ăn đủ chất, ăn no thì các thầy mới có sức mà chuyên tâm kinh sách, lao động, hoằng dương Phật pháp, giáo hóa chúng sinh được. Chế biến ra nhiều món lạ, nấu ăn ngon cũng là một cách mình tu tâm dưỡng tính, một cách thờ chữ nhẫn, một phương pháp khám phá bể học mênh mông của đạo, của đời.
Hay lam hay làm, lại có khiếu nội trợ nên mỗi ngày, ni Ánh luôn nghĩ ra các món chay để tập làm. Cây mơ tam thể mọc hoang ngoài bờ rào kia, mùi thì nặng, vị lại chát xít, tưởng sinh ra chỉ để dành cho món mộc tồn của người phàm, ấy thế mà ni Ánh lại mang nó vào bếp nhà Phật được mới tài. Chả là, một buổi làm cỏ vườn, thầy sai nhổ hết loài cây gai góc ấy đi kẻo “thấy vườn chùa có lá mơ, khối người lại cười ruồi và xiên xẹo nghĩ thầy trò ta phá giới không chừng”. Biết là thầy đùa thôi, nhưng mà Ánh vẫn thấy tưng tức. Cây cỏ vô tình, sao lại có thứ riêng của người trần, loại riêng cho nhà Phật. Thế là ni Ánh hái thử một nắm lá mơ mang vào bếp. Thấy người ta vẫn luộc măng nhiều lần cho bớt đắng, cô cũng bỏ nắm lá mơ vào xoong luộc. Lần thứ nhất, nước trong nồi đen kịt, mùi đặc trưng tỏa khắp gian bếp; lần thứ hai, nước nhạt màu hơn, mùi cũng bớt; luộc đến lần thứ ba thì lá mơ chỉ còn màu nhờ nhờ, mùi đặc trưng và vị chát cũng biến mất. Nhìn những chiếc lá mơ mềm chẳng khác nào mộc nhĩ, ni Ánh liền nghĩ ngay đến món giò hoa. Nài tôi nếm thêm một miếng giò rồi thầy cười tủm tỉm: “Thế nào, ai nghĩ lá mơ lại biến thành những khoanh giò chắc và ngọt thế nhỉ”. Tôi gật gù tán thưởng nhưng cũng xin kiếu chứ không thầy bắt nếm hết 10 loại giò, 10 loại chả, 7, 8 thứ nem nữa thì đến vỡ bụng mất!
Nghĩ đến đâu làm đến đấy, dần dà, từ những thứ rau, củ, quả thông thường, đến nay, sau gần 80 năm thi triển công phu qua đường bếp núc, bằng đôi bàn tay tài hoa và óc thẩm mỹ tinh tế, ni trưởng Đàm Ánh đã chế biến thành hơn 200 món ăn hấp dẫn, đã ngạt ngào hương, đậm đà vị, lại hài hòa sắc để rồi ai ăn một lần cũng phải mê mẩn.
Tài biện cỗ của thầy Ánh càng nức tiếng thiên hạ khi mang y bát về trụ trì chùa Phụng Thánh từ năm 1973. Coi sóc ngôi cổ tự hơn 1.000 năm tuổi ở đất Tràng An đệ nhất phong lưu, lại là đệ tử cưng của cư sĩ Thiều Chửu, Pháp chủ Thích Đức Nhuận nên thầy phải làm cỗ bàn đãi khách ở chùa cũng lắm mà lên chùa Quán Sứ - trụ sở của Trung ương giáo hội Phật giáo Việt Nam - tổ chức cỗ bàn tiếp khách đông khách tây cũng nhiều.
“Khó lắm! Thầy miền Nam khẩu vị khác, thầy miền Bắc nết ăn nết ở khác, rồi người ăn đậm người ăn nhạt, người thích đồ xào, người ưa thức nấu… chín người mười ý” - thầy bảo. Nhưng được cái phần nhờ tài thiên bẩm, phần chịu khó tích cóp qua từng năm tháng nên thầy Ánh làm mấy trăm mâm cỗ phục vụ cả nghìn thực khách mỗi ngày mà vẫn đâu vào đấy. Khách vừa được ăn ngon mà cỗ bàn cũng không thừa mứa. Có những dịp lễ trọng của giáo hội, một tay thầy cỗ bàn cả tuần trời mà vẫn nhẹ tựa lông hồng. 76 năm lo việc bếp núc nhà chùa, phục vụ biết bao lượt khách nhưng bữa cỗ chiêu đãi đoàn khách cấp cao Ấn Độ vẫn là kỷ niệm đáng nhớ nhất của thầy. Một ngày trung tuần tháng 10/1954, sau cuộc gặp mặt lịch sử giữa Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phía bạn muốn được thưởng thức một bữa tiệc chay. Ni sư Đàm Ánh được chọn mặt gửi vàng. “Tôi biện mâm cỗ chay với đầy đủ 3 bát, 6 đĩa như một bữa cỗ Việt truyền thống. Tiệc dọn đơn sơ mà ấm cúng trong quang cảnh u tịch của chùa Quán Sứ. Bà Indira Gandhi (con gái Thủ tướng Jawaharlal Nehru, sau này là Thủ tướng Ấn Độ hai nhiệm kỳ: 1966-1977 và 1980-1984 - T.G.) cứ tấm tắc khen món chả cốm làm bằng mộc nhĩ, nấm hương, thịt gà làm từ măng và cá chép sốt chua ngọt chế tác từ hoa chuối bao tử. Ăn xong, thích quá, bà ấy còn xin gói mang về” - thầy hồi tưởng.
Triết lý trên bàn ăn
Ngày đầu tiên gặp lại sau 10 năm xa cách, thầy ung dung tự tại lúc kéo tôi đi chợ chọn mua thực phẩm, khi vào bếp tận tình chỉ dạy từ cách biến quả đu đủ thành con vịt, miếng phù trúc thành khoanh giò lụa, chuyện gia giảm muối, tiêu, hành trong khi đun nấu đến cách thưởng thức một bữa cỗ chay, và quan trọng nhất là triết lý trong mâm cơm của nhà Phật. Suốt từ 4h sáng đến 11h đêm, thầy miệng nói tay làm nhịp nhàng, chu chỉnh dù đã 86 tuổi đời, biện mâm cao cỗ đầy để đãi khách trong khi mình chỉ ăn có 1.000 đồng tiền bánh gio. Thật nể cho tâm, sức của cụ!
Nhắc lại chuyện càn quấy của tôi 10 năm về trước, thầy cười nhân từ rồi ân cần giảng giải: Ăn chay trong quan niệm của nhà Phật là để tránh sát sinh, giúp con người loại bỏ tham, sân, si mà dưỡng pháp thiện, tăng can lành.
- Vậy tại sao các món chay cứ phải bắt chước y hệt món mặn từ hình thức đến mùi vị?
- Thứ nhất là để các sư trổ tài khéo léo, nghiên cẩn, công phu và tâm huyết trong chuyện bếp núc - đấy cũng chính là một đường tu. Thứ hai, ăn món giả mà vẫn ngon như thật thì lâu dần anh có thấy chẳng cần ăn đồ thật vẫn được, phải không? Ăn cỗ chay để di dưỡng Phật tính là ở chỗ ấy.
Miên man sang chuyện thầy nổi tiếng về tài làm cỗ, cụ nhỏ nhẹ: “Tôi làm cỗ không phải để cầu danh mà bởi muốn gìn giữ một phong cách nghệ thuật ẩm thực độc đáo của dân tộc”. Nói về cỗ chay, trước tiên đó là nghệ thuật của thị giác bởi chỉ từ nguyên liệu thực vật, đầu bếp cũng nấu được cả các món mặn để đánh lừa người ăn một cách khéo léo. Người thưởng món chay cũng đang tự đánh lừa mình, bởi thừa biết các món bày ra trên bàn ăn kia hoàn toàn chỉ mang cái tên món ăn chứ nó không phải là thứ mình từng ăn quen thuộc. Đến khi ngồi thưởng thức cỗ chay thì lại là khoảnh khắc của nghệ thuật vị giác, để gật gù nhấm nháp miếng bột dong biển dậy mùi cá thu, miếng hoa chuối bao tử thơm như thịt gà, miếng bột đậu xanh bùi như trứng chạch v.v.. Thức ăn thì giả nhưng tình người, triết lý sống thể hiện qua đó thì mãi dạt dào.
Theo giới luật nghiêm cẩn của nhà Phật, ngày thường, các sư ăn uống đạm bạc tương, cà, rau, đậu là xong, nhưng vào dịp lễ trọng thì chùa nghèo đến mấy cũng phải biện cho được ít mâm cỗ mà cúng Phật và thết đãi chúng sinh. Chả phải để khoe mẽ gì, chẳng qua cũng là theo tâm thức của dân tộc cả thôi, ngày tư ngày tết mà.
Nhà chùa thường biện cỗ chay trong những dịp lễ tết như: lễ Thượng Nguyên, Phật đản, lễ vào hè, ra hè, rằm tháng 7, giỗ tổ... Ngoài ra, khi các gia đình Phật tử muốn đặt cỗ chay cúng Phật, cúng dâng sao giải hạn, cúng các tuần tiết xuân, hạ, nhà chùa cũng thường làm giúp. Thế nên thầy hầu như ni trưởng Đàm Ánh bận bịu quanh năm. Ngày ít thì vài chục mâm, ngày nhiều thì cụ biện cả trăm mâm cỗ để chuyên chở cái tình, cái vị của nhà Phật đến với đông đảo thực khách. Rồi, trong xã hội hiện đại mà cũng lắm tật bệnh do ăn uống vô độ này, cơm chay tự nhiên lại lên ngôi, ăn chay đã và đang trở thành mốt của rất nhiều người lắm tiền nhiều của đã ê hề sơn hào hải vị. Rồi khách du lịch ngoại quốc khi đến Hà Nội cũng rất mong muốn được thưởng thức cỗ chay - như một sản vật độc đáo. Vậy là thầy lại thêm việc, người ta cứ đến đón thầy đi dạy nấu chay cho đầu bếp các nhà hàng, khách sạn sang trọng.
… Cuộc đời ni trưởng Thích Đàm Ánh thật lạ lùng: ăn uống khảnh khót mà lại là một đầu bếp tài hoa; làm cỗ cho cả thiên hạ thưởng thức rồi tấm tắc khen tài mà suốt đời chỉ nghiện có dưa với cà; chẳng qua bất kỳ trường lớp nào mà rồi đi hơn chục nước, làm thầy ẩm thực cho cả ngàn người; thầy ơi, bao giờ con khám phá được hết sự vi diệu trong nghệ thuật bếp núc của người?
Hà thành đệ nhất cỗ chay
Như một cơ duyên, ngày tôi trở về cũng là hôm chùa có việc, thầy làm lễ cúng thất tuần cho người dì quá cố. Nghĩa là thêm một dịp thầy đích thân thi triển công phu qua từng món ăn. Hôm ấy, thầy làm ba chục mâm cỗ chay vừa cúng vừa đãi đằng bà con họ hàng đi tới 3 xe ô tô 16 chỗ ngồi nô nức từ Bắc Giang kéo xuống chốn già lam nằm hút cuối ngõ Cống Trắng - phố Khâm Thiên - phường Trung Phụng - quận Đống Đa - TP. Hà Nội. Ba chục mâm cỗ chả thấm vào đâu so với những lần thầy biện cả trăm mâm mỗi ngày để đãi khách vào những dịp lễ trọng: rằm tháng Giêng, lễ Vu Lan báo hiếu, giỗ tổ, đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc, đại lễ Phật đản thế giới tại Việt Nam… Nhưng, một hay trăm món cũng vậy, thầy luôn để vào đó tất cả sự tâm huyết. Tuồng như với thầy, nấu cỗ chay cũng là một đường tu.
Từ mấy chục năm nay, ngày nào cũng vậy, cứ 3h sáng là thầy tỉnh giấc, thiền định đến 4h thì ra khỏi giường và bắt đầu một ngày tất bật việc đạo, việc đời. Sáng nay, chùa có việc nên thầy phải đi chợ sớm. Để yên cho các đệ tử ngon giấc, thầy khẽ khàng lách mình qua cửa, đi bộ ra đầu ngõ, bắt một chiếc xe ôm lên thẳng chợ Bắc Qua - chợ đầu mối nông sản lớn nhất đất Hà thành.
Dạo khắp chợ, vừa hỏi han cha mẹ, con cái người này, chuyện mớ rau, cân quả với người khác, thầy vừa nhanh tay chọn từng cọng hành, củ khoai tây, súp lơ, cân phù trúc… Vốn tính tằn tiện, lại quen lối sống khổ hạnh của người tu hành, hễ lần nào làm cỗ bàn, thầy đều phải cất công lên đây mua thực phẩm, là chợ bán buôn nên rau, củ, quả vừa tươi, ngon, lại rẻ hơn các nơi khác vài giá. Thầy chọn mua hàng thì kỹ lắm, hàng giập, hàng xấu thì đừng hòng lọt lưới đã đành, ngay cả những thứ đã tươi ngon rồi, người cũng còn suy xét chán rồi mới quyết định: “Hôm nay làm đậu phụ nên mua đỗ này thì dôi; để hôm khác mua loại hạt nhỏ thì làm tương mới thơm và được nước”. Còn “đây là mộc nhĩ Nam, to, mua để gói giò thì được chứ để xào nấu thì chốc nữa ra đầu chợ mua hàng Bắc của chị Tân Đan Phượng, loại ấy nhỏ, đen nhưng giòn và thơm lắm”…
Vồn vã chuyện trò, nhanh nhảu bán mua, chừng 5h sáng, thầy và những tải thực phẩm nghễu nghện về đến chùa thì mấy ni, vãi già mới tỉnh giấc. Ngồi xuống một góc quen thuộc nơi chiếc chiếu trải ở góc trái hành lang tam bảo, thầy pha một ấm trà sen ngồi nhâm nhi, nghỉ lấy sức rồi gọi các đệ tử lên cắt đặt công việc trong ngày. Hương sen làm buổi sáng thêm tinh khiết. Lối nói chuyện hay pha trò cùng điệu cười hấp háy thường trực làm người đối diện không dám nghĩ là thầy đã 86 tuổi, lại đang vật lộn với đủ thứ bệnh.
Cỗ chay chùa Phụng Thánh do thầy Đàm Ánh trổ tài thao lược từ nấu nướng đến bày biện thì vô cùng phong phú. Sáu người đủ đóng đủ mâm. Một xoong nhỏ được bưng lên, mở vung, hương thơm ngào ngạt lan tỏa làm ai nấy đều hít hà. Đó là món khai vị: cháo nấm. Vừa vặn mỗi người được một bát, khói bốc nghi ngút, múc một thìa cháo đặc sánh, hương thơm dịu của nấm, gạo len ngay vào mũi. Thìa cháo vào đến miệng, đầu lưỡi tê đi vì nóng, nuốt một miếng nhỏ, ôi thôi, vị béo, bùi đã đánh gục con tì, con vị của ta rồi. Hết món phụ: nộm hoa chuối tai lợn, nem chạo là đến món chính: giò hoa, chả cốm, vịt nhồi, riêu cá chép, chân giò ninh măng... cuối cùng là tráng miệng bằng chè hạt sen. Mâm cao cỗ đầy của chùa Phụng Thánh thường gồm từ 12-18 món, đã bày biện đẹp lại thơm ngon nên nhanh chóng được thực khách đánh hết veo. Thích mắt, no bụng rồi ai cũng suýt xoa: giống y như thật từ hình thức đến mùi vị, mà sao ăn lại có phần ngon hơn cỗ mặn; và tuồng như vẫn chưa hết cơn thèm với những món ăn lạ miệng ấy.
Bên bể nước mưa cạnh gốc cau và khóm hoa mộc, xa xa là đầu đao cong vút của mái chùa; một nếp áo nâu sòng nổi bật giữa ớt đỏ, cà tím, đỗ xanh, khoai tây vàng, đậu phụ trắng… đẹp như tranh. Ni trưởng Thích Đàm Ánh vừa ngồi cẩn thận nhặt, rửa các loại rau, củ, quả, vừa chỉ vẽ cho tôi cách nấu đồ chay.
Nấu cháo nấm đơn giản lắm: gạo tẻ ngon vo sạch, để ráo, đun sôi nước mới đổ gạo vào. Đạy vung nồi, đun lửa liu riu cho cháo nhừ. Nấm hương khô, cắt lấy phần chân, rửa sạch, ngâm nước nóng cho mềm rồi xé nhỏ, lúc cháo sắp nhừ thì cho nước nấm, chân nấm, một ít dầu ăn vào rồi quấy đều. Đun thêm một lúc, nêm gia vị là được nồi cháo sánh và thơm ngon. Trong nghệ thuật nấu ăn của người thường, rau thơm chỉ có tác dụng điểm xuyết thêm mùi, nhưng với thầy, nhiều khi, chỉ một loại rau cũng làm hoán cải cả món ăn. Thì đấy, cũng là gạo và nấm hương, để nguyên là cháo nấm, thêm chút hành và húng Láng thành cháo lòng, bỏ rau răm vào là ra cháo lươn, thay bằng thì là đã hóa ra cháo cá, cháo hến.
- Bạch thầy! Món nem chạo làm thế nào ạ?
- Miến dong chần là bì lợn thái chỉ, mỡ phần là cùi bưởi thái xúc xắc. Bột thính gồm gạo nếp, gạo tẻ thơm, đỗ tương, đỗ xanh rang vàng, xay nhỏ, rây mịn. Trộn đều tất cả, thêm nhúm lá chanh thái chỉ là nổi vị.
Chiêm ngưỡng thầy trổ tài làm bếp, tôi ngộ ra rằng dường như người đang răn mình và giáo hóa chúng sinh qua đường ẩm thực chứ không đơn thuần là nấu nướng.
Nội món đơn giản là xôi vò mà sự kỳ công đã lên bậc thượng thừa. Gạo, đỗ được định tỉ lệ 3/1. Gạo nếp, nếu nấu xôi vò gấc thì ngâm 2 tiếng, xôi vò thô thì ngâm 6 tiếng rồi vo kỹ, vẩy kiệt nước, dùng khăn mỏng lau nhẹ cho khô gạo. Tiếp đó, trộn đều gạo với dầu ăn, muối và riềng với tỉ lệ 1kg gạo/0,1kg riềng cạo sạch vỏ, thái mỏng. Xếp 4-5 chiếc đũa con xuống đáy rồi nhẹ nhàng đổ gạo vào chõ, dàn đều. Nổi lửa, đun tới khi chõ bắt đầu lên hơi, xôi chín đều, không bị vón, hạt xôi mềm mọng mà không nhão. Xôi chín tới, dỡ ngay ra mẹt, rưới nước riềng, ủ chừng dăm phút rồi tãi mỏng. Khi xôi nguội hẳn, đồ lại lần hai rồi tãi ra mẹt hong nguội. Đỗ ngâm 2 tiếng trong nước ấm, đãi sạch vỏ rồi rắc muối, xát ngầu bọt, đãi sạch, vẩy kiệt nước. Đỗ đồ, tãi ra mẹt, để nguội, giã nhỏ rồi trộn với xôi, vò kỹ. Lúc này, hạt xôi mềm và to mọng như con ong non, lại thơm từ trong lòng hạt gạo đến bên ngoài áo đỗ. Xôi chùa Phụng Thánh để được 3 ngày mà ăn vẫn dẻo, thơm. Đi cùng với xôi vò là chè nấu bằng bột củ mã thầy ướp hoa bưởi hay hoa nhài. Bột lọc sạch tinh, chè quấy kỹ, để đến ngày hôm sau vẫn quánh. Xôi như thế, chè như thế, ăn một lần khéo mỗi lúc ngồi nhớ lại, nuốt nước bọt vẫn còn thấy ngọt.
Nhưng lạ hơn cả là món chạch kho tương làm bằng đọt khoai nước. Nói đến loài cây dân dã này, ai sinh ra và lớn lên ở nông thôn chẳng rùng mình bởi nếu vô tình để nhựa nó dây vào người thì ngứa đến phát cuồng. Thế mà lạ thay, dưới bàn tay thầy, chúng lại hiền từ ngự trên bàn ăn nơi cửa Phật. Đọt khoai bỏ cuống, rửa sạch, vẩy kiệt nước, mở ra cho bột đậu xanh vào làm nhân, cuốn chặt lại như cũ, cắt khúc rồi xếp vào nồi. Tiếp đến là một lượt cà chua hoặc quả nhót xé nát. Riềng cạo vỏ, giã nhỏ rắc lên trên cùng rồi đổ tương vào nồi cho sâm sấp, thêm chút mì chính, ít nước lã rồi đun cạn. Thầy bảo: điều tối kỵ là không được đụng đũa vào nồi trong khi đun. Bởi, chọc đũa vào sẽ làm ngưng quá trình giải ngứa của đọt khoai, ăn vào thì ngứa đến xé họng. Món đọt khoai nước giả chạch kho này thịt chắc, thơm, trứng béo, bùi như thật…
Từ ép buộc đến say mê
Chính Ngọ ngày 11/11/1923, khi sinh ra một cái bọc sau 13 tháng mang thai, sau bao năm mong mỏi, bao lễ vật kêu cầu khắp các chùa chiền trong Nam ngoài Bắc, người mẹ mừng rơi nước mắt và đặt tên con là Nguyễn Thị Sàng. Hài nhi ấy quặt quẹo, 3 lần tưởng chết ngạt mà rồi lại sống. “14 tháng tuổi, tôi đã bắt đầu ăn chay” - thầy Đàm Ánh nói. Chả là, cha mẹ bỏ nhau, cô bé được bà ngoại mang về nuôi. Bà mộ đạo Phật, ăn chay trường, thế là cho cháu theo luôn.
10 tuổi, một hôm, có ông thầy tướng số tình cờ đi ngang nhà, thấy Sàng liền phán ngay rằng, căn số này, phải xuất gia mới sống được. Bà ngoại hoảng quá liền lên chùa Âm Hồn - xã Vạn Linh - thị xã Bắc Giang - tỉnh Hà Bắc (nay là TP Bắc Giang - tỉnh Bắc Giang) xin cho cháu được cắt tóc quy y.
Ngày ở nhà, cô bé Sàng đã được bà dạy làm các món ăn chay: dưa muối, gừng ngâm, cà bung… nhưng chỉ đến khi lên ở chùa, ni cô Thích Đàm Ánh (pháp danh) mới thực sự làm quen với chuyện bếp núc. “Những ngày đầu, nhà chùa bắt ăn đậu phụ nhự (chao), nó nặng mùi lắm nên tôi cứ khịt mũi, nhăn mặt rồi chối bai bải. Thấy vậy, sư cụ mới đe: nếu không ăn thì đuổi về. Không lẽ ăn uống mà cứ như cực hình thế này, làm sao để món chao bớt mùi, bát tương thơm, quả cà giòn?...” - thầy nhớ lại.
Các cụ bảo hay ăn thì lăn vào bếp, ni Ánh thì ngược lại, ăn uống khảnh khót, cả ngày chỉ cần một bát cơm, vài lá bún cũng xong. Ấy thế nhưng cô lại thích được bày biện bếp núc. Xưa, thực phẩm nhà chùa thì ngoài đậu phụ, tương, cà và vài loại rau ráo trong vườn, dưới ao là hết chứ có đâu phong phú đồ ta đồ tàu như bây giờ. Đã đành, với các tăng, ni, ăn uống cũng chỉ để lấy sức mà hành đạo, ăn qua bữa thì thôi nên sáng luộc rau, chiều rau luộc cũng không ai phàn nàn. Nhưng ni Ánh nghĩ, có ăn ngon miệng, ăn đủ chất, ăn no thì các thầy mới có sức mà chuyên tâm kinh sách, lao động, hoằng dương Phật pháp, giáo hóa chúng sinh được. Chế biến ra nhiều món lạ, nấu ăn ngon cũng là một cách mình tu tâm dưỡng tính, một cách thờ chữ nhẫn, một phương pháp khám phá bể học mênh mông của đạo, của đời.
Hay lam hay làm, lại có khiếu nội trợ nên mỗi ngày, ni Ánh luôn nghĩ ra các món chay để tập làm. Cây mơ tam thể mọc hoang ngoài bờ rào kia, mùi thì nặng, vị lại chát xít, tưởng sinh ra chỉ để dành cho món mộc tồn của người phàm, ấy thế mà ni Ánh lại mang nó vào bếp nhà Phật được mới tài. Chả là, một buổi làm cỏ vườn, thầy sai nhổ hết loài cây gai góc ấy đi kẻo “thấy vườn chùa có lá mơ, khối người lại cười ruồi và xiên xẹo nghĩ thầy trò ta phá giới không chừng”. Biết là thầy đùa thôi, nhưng mà Ánh vẫn thấy tưng tức. Cây cỏ vô tình, sao lại có thứ riêng của người trần, loại riêng cho nhà Phật. Thế là ni Ánh hái thử một nắm lá mơ mang vào bếp. Thấy người ta vẫn luộc măng nhiều lần cho bớt đắng, cô cũng bỏ nắm lá mơ vào xoong luộc. Lần thứ nhất, nước trong nồi đen kịt, mùi đặc trưng tỏa khắp gian bếp; lần thứ hai, nước nhạt màu hơn, mùi cũng bớt; luộc đến lần thứ ba thì lá mơ chỉ còn màu nhờ nhờ, mùi đặc trưng và vị chát cũng biến mất. Nhìn những chiếc lá mơ mềm chẳng khác nào mộc nhĩ, ni Ánh liền nghĩ ngay đến món giò hoa. Nài tôi nếm thêm một miếng giò rồi thầy cười tủm tỉm: “Thế nào, ai nghĩ lá mơ lại biến thành những khoanh giò chắc và ngọt thế nhỉ”. Tôi gật gù tán thưởng nhưng cũng xin kiếu chứ không thầy bắt nếm hết 10 loại giò, 10 loại chả, 7, 8 thứ nem nữa thì đến vỡ bụng mất!
Nghĩ đến đâu làm đến đấy, dần dà, từ những thứ rau, củ, quả thông thường, đến nay, sau gần 80 năm thi triển công phu qua đường bếp núc, bằng đôi bàn tay tài hoa và óc thẩm mỹ tinh tế, ni trưởng Đàm Ánh đã chế biến thành hơn 200 món ăn hấp dẫn, đã ngạt ngào hương, đậm đà vị, lại hài hòa sắc để rồi ai ăn một lần cũng phải mê mẩn.
Tài biện cỗ của thầy Ánh càng nức tiếng thiên hạ khi mang y bát về trụ trì chùa Phụng Thánh từ năm 1973. Coi sóc ngôi cổ tự hơn 1.000 năm tuổi ở đất Tràng An đệ nhất phong lưu, lại là đệ tử cưng của cư sĩ Thiều Chửu, Pháp chủ Thích Đức Nhuận nên thầy phải làm cỗ bàn đãi khách ở chùa cũng lắm mà lên chùa Quán Sứ - trụ sở của Trung ương giáo hội Phật giáo Việt Nam - tổ chức cỗ bàn tiếp khách đông khách tây cũng nhiều.
“Khó lắm! Thầy miền Nam khẩu vị khác, thầy miền Bắc nết ăn nết ở khác, rồi người ăn đậm người ăn nhạt, người thích đồ xào, người ưa thức nấu… chín người mười ý” - thầy bảo. Nhưng được cái phần nhờ tài thiên bẩm, phần chịu khó tích cóp qua từng năm tháng nên thầy Ánh làm mấy trăm mâm cỗ phục vụ cả nghìn thực khách mỗi ngày mà vẫn đâu vào đấy. Khách vừa được ăn ngon mà cỗ bàn cũng không thừa mứa. Có những dịp lễ trọng của giáo hội, một tay thầy cỗ bàn cả tuần trời mà vẫn nhẹ tựa lông hồng. 76 năm lo việc bếp núc nhà chùa, phục vụ biết bao lượt khách nhưng bữa cỗ chiêu đãi đoàn khách cấp cao Ấn Độ vẫn là kỷ niệm đáng nhớ nhất của thầy. Một ngày trung tuần tháng 10/1954, sau cuộc gặp mặt lịch sử giữa Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phía bạn muốn được thưởng thức một bữa tiệc chay. Ni sư Đàm Ánh được chọn mặt gửi vàng. “Tôi biện mâm cỗ chay với đầy đủ 3 bát, 6 đĩa như một bữa cỗ Việt truyền thống. Tiệc dọn đơn sơ mà ấm cúng trong quang cảnh u tịch của chùa Quán Sứ. Bà Indira Gandhi (con gái Thủ tướng Jawaharlal Nehru, sau này là Thủ tướng Ấn Độ hai nhiệm kỳ: 1966-1977 và 1980-1984 - T.G.) cứ tấm tắc khen món chả cốm làm bằng mộc nhĩ, nấm hương, thịt gà làm từ măng và cá chép sốt chua ngọt chế tác từ hoa chuối bao tử. Ăn xong, thích quá, bà ấy còn xin gói mang về” - thầy hồi tưởng.
Triết lý trên bàn ăn
Ngày đầu tiên gặp lại sau 10 năm xa cách, thầy ung dung tự tại lúc kéo tôi đi chợ chọn mua thực phẩm, khi vào bếp tận tình chỉ dạy từ cách biến quả đu đủ thành con vịt, miếng phù trúc thành khoanh giò lụa, chuyện gia giảm muối, tiêu, hành trong khi đun nấu đến cách thưởng thức một bữa cỗ chay, và quan trọng nhất là triết lý trong mâm cơm của nhà Phật. Suốt từ 4h sáng đến 11h đêm, thầy miệng nói tay làm nhịp nhàng, chu chỉnh dù đã 86 tuổi đời, biện mâm cao cỗ đầy để đãi khách trong khi mình chỉ ăn có 1.000 đồng tiền bánh gio. Thật nể cho tâm, sức của cụ!
Nhắc lại chuyện càn quấy của tôi 10 năm về trước, thầy cười nhân từ rồi ân cần giảng giải: Ăn chay trong quan niệm của nhà Phật là để tránh sát sinh, giúp con người loại bỏ tham, sân, si mà dưỡng pháp thiện, tăng can lành.
- Vậy tại sao các món chay cứ phải bắt chước y hệt món mặn từ hình thức đến mùi vị?
- Thứ nhất là để các sư trổ tài khéo léo, nghiên cẩn, công phu và tâm huyết trong chuyện bếp núc - đấy cũng chính là một đường tu. Thứ hai, ăn món giả mà vẫn ngon như thật thì lâu dần anh có thấy chẳng cần ăn đồ thật vẫn được, phải không? Ăn cỗ chay để di dưỡng Phật tính là ở chỗ ấy.
Miên man sang chuyện thầy nổi tiếng về tài làm cỗ, cụ nhỏ nhẹ: “Tôi làm cỗ không phải để cầu danh mà bởi muốn gìn giữ một phong cách nghệ thuật ẩm thực độc đáo của dân tộc”. Nói về cỗ chay, trước tiên đó là nghệ thuật của thị giác bởi chỉ từ nguyên liệu thực vật, đầu bếp cũng nấu được cả các món mặn để đánh lừa người ăn một cách khéo léo. Người thưởng món chay cũng đang tự đánh lừa mình, bởi thừa biết các món bày ra trên bàn ăn kia hoàn toàn chỉ mang cái tên món ăn chứ nó không phải là thứ mình từng ăn quen thuộc. Đến khi ngồi thưởng thức cỗ chay thì lại là khoảnh khắc của nghệ thuật vị giác, để gật gù nhấm nháp miếng bột dong biển dậy mùi cá thu, miếng hoa chuối bao tử thơm như thịt gà, miếng bột đậu xanh bùi như trứng chạch v.v.. Thức ăn thì giả nhưng tình người, triết lý sống thể hiện qua đó thì mãi dạt dào.
Theo giới luật nghiêm cẩn của nhà Phật, ngày thường, các sư ăn uống đạm bạc tương, cà, rau, đậu là xong, nhưng vào dịp lễ trọng thì chùa nghèo đến mấy cũng phải biện cho được ít mâm cỗ mà cúng Phật và thết đãi chúng sinh. Chả phải để khoe mẽ gì, chẳng qua cũng là theo tâm thức của dân tộc cả thôi, ngày tư ngày tết mà.
Nhà chùa thường biện cỗ chay trong những dịp lễ tết như: lễ Thượng Nguyên, Phật đản, lễ vào hè, ra hè, rằm tháng 7, giỗ tổ... Ngoài ra, khi các gia đình Phật tử muốn đặt cỗ chay cúng Phật, cúng dâng sao giải hạn, cúng các tuần tiết xuân, hạ, nhà chùa cũng thường làm giúp. Thế nên thầy hầu như ni trưởng Đàm Ánh bận bịu quanh năm. Ngày ít thì vài chục mâm, ngày nhiều thì cụ biện cả trăm mâm cỗ để chuyên chở cái tình, cái vị của nhà Phật đến với đông đảo thực khách. Rồi, trong xã hội hiện đại mà cũng lắm tật bệnh do ăn uống vô độ này, cơm chay tự nhiên lại lên ngôi, ăn chay đã và đang trở thành mốt của rất nhiều người lắm tiền nhiều của đã ê hề sơn hào hải vị. Rồi khách du lịch ngoại quốc khi đến Hà Nội cũng rất mong muốn được thưởng thức cỗ chay - như một sản vật độc đáo. Vậy là thầy lại thêm việc, người ta cứ đến đón thầy đi dạy nấu chay cho đầu bếp các nhà hàng, khách sạn sang trọng.
… Cuộc đời ni trưởng Thích Đàm Ánh thật lạ lùng: ăn uống khảnh khót mà lại là một đầu bếp tài hoa; làm cỗ cho cả thiên hạ thưởng thức rồi tấm tắc khen tài mà suốt đời chỉ nghiện có dưa với cà; chẳng qua bất kỳ trường lớp nào mà rồi đi hơn chục nước, làm thầy ẩm thực cho cả ngàn người; thầy ơi, bao giờ con khám phá được hết sự vi diệu trong nghệ thuật bếp núc của người?
Thứ Sáu, 20 tháng 2, 2009
Làm thuê nuôi nghề từ thiện
69 tuổi, trong khi nhiều người đã lụ khụ ở nhà dưỡng già thì ông vẫn phăm phăm cưỡi xe máy đi hàng trăm cây số mỗi ngày về buôn làng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên để làm từ thiện, dù mình nghèo rớt mùng tơi. Tên thật của ông là Đỗ Văn Toàn, người Kinh, nhưng đồng bào K’Ho, Châu Mạ, Châu Ro, S’Tiêng, Cil, Lạch… đều xem ông như người đồng tộc. Bà con gọi ông là K’Toàn.
Của cho không bằng cách cho
6h sáng. Trời giông gió, mây đen vần vũ. Chằng bốn bao tải đựng đầy quần áo, giày dép, sách bút… lên yên hai chiếc xe máy, chúng tôi băng 47km đường rừng vào buôn Đạ Nua - xã Lộc Lâm - huyện Bảo Lâm - tỉnh Lâm Đồng. Đường toàn đất bazan đỏ au, không quanh co liên hồi kỳ trận thì cũng bụi mù, xóc nảy, thế mà K’Toàn cứ phóng xe như bay làm tôi đuổi mướt mồ hôi vẫn không kịp. Thật nể cho sức vóc của ông lão; mới hôm qua, rong ruổi hơn 200km đi Hàm Thuận Bắc (Bình Thuận) từ 6h sáng, về giữa đường xe lại hỏng, phải dắt bộ suốt 5km đường rừng lầy lội trong mưa nên mãi hơn 10h đêm mới về đến nhà; bải hoải, rã rời, ấy vậy mà chỉ cần nghe tôi bảo muốn đi đồng bào là đã xăng xái lên đường. “Cứ nói đến chuyện vào buôn là tôi thấy người khỏe re. Xa mấy cũng đi được” - ông cười rổn rảng trấn an tôi.
Trèo đèo lội suối gần hai tiếng đồng hồ, chúng tôi mới vào đến điểm hẹn. Đạ Nua là buôn cuối cùng của xã vùng sâu vùng xa Lộc Lâm. Đồng bào dân tộc K’Ho nơi đây kiếm kế sinh nhai trên những thửa ruộng, mảnh vườn ít ỏi và những sản vật rừng mỗi ngày một khan hiếm nên đời sống rất khó khăn. Tụi trẻ lem luốc với những bộ quần áo bợt cả sợi vải, rách tứ tung, vá chằng vá đụp… đang ngồi bệt xuống những khoảnh sân đất trước nhà đùa nghịch chí chóe hay nặn đất, vê bùn. Từng tốp phụ nữ thì túm năm tụm ba tán chuyện rầm rì. Đám đàn ông, nhất là thanh niên trai tráng, thì tụ bạ ở mấy hiệu tạp hóa kiêm quán ăn sơ sài nằm ngay bên trục độc đạo lổn nhổn đá hộc và đất đỏ bazan mà nâng lên đặt xuống hết chén này đến chén khác suốt cả buổi dù thức nhắm chỉ là vài con cá khô, tô mì tôm, gói đậu phộng…
Hai chiếc xe máy lạ vừa rằn đá nảy tưng tưng vào đến đầu buôn, những tiếng ồ à, í ới đã rộn khắp nơi: “Ô, K’Toàn”, “K’Toàn về bà con ơi”… Chục phút sau, đàn ông, đàn bà, người già, trẻ con khắp buôn đã kéo về đứng ngồi lố nhố khắp trong nhà, ngoài sân nhà K’Hạnh nằm đối diện trạm Y tế. Chẳng kịp uống cho xong chén nước, chúng tôi đổ hết bốn bao tải quần áo, giày dép, sách, vở, bút, bánh kẹo, thuốc men, bột giặt… ra chiếc chiếu giữa nhà. Giũ tấm áo, manh quần, nhìn khắp lượt khuôn mặt, vóc dáng của những người xung quanh rồi ông Toàn ân cần: “Này, K’Lu, áo này vừa đấy”, “Ka Mây thử cái quần này đi”, “Ka Bung uống nốt liều thuốc này là hết đau đầu ngay”, “Vở, bút đây, K’Lim mang về đi học nhé”… để lĩnh xướng những tràng cười rộ lên vui vẻ của mọi người. Gần một giờ sau, đống đồ sạch bách, nghe bà con xuýt xoa, hể hả: “Ôi, nghiêm (đẹp, vừa)”, “Áo này ấm lắm”, “Quần thích quá”, “Kẹo ngọt thế” v.v., ông Toàn kéo vạt áo lau vội khuôn mặt, vầng trán đầm đìa mồ hôi, ngồi duỗi chân duỗi tay thở hổn hển trong nụ cười mãn nguyện.
Đừng chờ giàu mới làm từ thiện
Năm 1954, Đỗ Văn Toàn theo gia đình rời Kim Sơn - Ninh Bình vào Bảo Lộc - Lâm Đồng xây dựng vùng kinh tế mới để rồi như có duyên tiền định, con mèo rừng này gắn bó trọn đời với đại ngàn Tây Nguyên thâm u, kỳ bí và đầy mê hoặc.
Từ nhỏ, Toàn đã mang trong mình hai nửa tâm hồn trái ngược đến xung đột. Ai nghĩ được rằng cậu bé nghịch như quỷ ấy lại luôn để ý đến những vân vi của đời sống, lại luôn động lòng trắc ẩn trước những cảnh đời, phận người. Năm học lớp 6, thấy những bạn bè người dân tộc Châu Mạ luôn xanh rớt vì đói, áo quần mặc đến trường thì vá víu chằng chịt hoặc mỏng manh tê tái, Toàn thấy lòng quặn đau như chính mình đói rét. Tan học, cậu thường theo chân đám bạn nghèo ấy về buôn Con Hiên Đạ để làm bẫy chuột, làm ná bắn chim, đi hái rau rừng… Tận mắt chứng kiến cuộc sống thiếu cơm ăn áo mặc của đồng bào, nước mắt cứ rịn ra trên khuôn mặt láu lỉnh của Toàn. Cậu quyết định phải góp sức nhỏ bé của mình để giúp đỡ đồng bào. Tối tối, chờ cả nhà ngủ say, Toàn rón rén vào buồng lấy gạo, muối, cá khô, đậu phộng… trút vào những chiếc túi vải, gói ghém cẩn thận rồi dấu trong cặp sách. Ngày hôm sau, học xong, cậu theo chân các bạn về buôn rồi phân phát chiến lợi phẩm cho những nhà nghèo. Cứ tuần tự đêm về lấy của nhà, ngày mang ra chia sẻ như thế, số thực phẩm của Toàn tuy ít ỏi nhưng cũng đỡ được đôi phần cơn đói gạo, thèm muối… của nhiều gia đình nơi đây. Có điều, khi mang đồ ăn thức uống của nhà đi chia cho đồng bào, cậu vui bao nhiêu thì lúc về nhà lại thót tim bấy nhiêu. Mẹ thấy ché gạo, hũ muối, bịch cá khô… vơi nhanh đến lạ lùng nên cứ mặt ủ mày rầu. Thương lắm, nhưng mỗi khi mẹ hỏi, Toàn đều tỉnh queo, lặng thinh hoặc giả đò giả tảng đi lùng sục xem có con mèo, con chuột nào đào tường khoét vách, đột nhập vào buồng phá phách hay không…
Trái tim nhân hậu của Đỗ Văn Toàn không một phút nào ngơi nghĩ đến những người nghèo khổ quanh mình để bằng cách này hay cách khác, tìm cách giúp đỡ họ. Đó là một phần cuộc sống của con người dường như sinh ra để làm từ thiện này. Ước mơ lớn nhất của ông là cầu mong bề trên cho mình được mạnh khỏe, làm ăn tấn tới để có nhiều điều kiện vật chất để giúp đỡ người nghèo. Nhưng, làm đủ nghề từ làm vườn, nuôi heo, trồng cà phê đến hái chè, thợ điện v.v. mà ông Toàn cũng chỉ đủ tiền trang trải cuộc sống gia đình với mẹ già, vợ yếu cùng 5 đứa con thơ dại chứ chưa một lần được có cảm giác của một người dư dả. Đừng đợi giàu mới đi làm từ thiện. Ngộ ra điều ấy nên từ năm 1977, ông Toàn gắn thêm một nghề vào cuộc đời vốn dĩ đã không nề hà bất cứ nghề gì của mình, ấy là nghề từ thiện.
Ngày ấy, huyện Bảo Lộc phát động phong trào định canh, định cư trong vùng đồng bào dân tộc. Biết ông Toàn hay ăn dầm ở dề trong những cánh rừng thẳm để hái thuốc, lặn lội vào các buôn làng để sưu tầm và nghiên cứu văn hóa, ông Lâm Hồng Sơn (K’Sen) - Phó chủ tịch UBND huyện Bảo Lộc - đến rủ rỉ: “Ông có tài tổ chức, có uy tín với đồng bào nên huyện nhờ ông đi thuyết phục bà con định canh định cư nhé”. Được lời như cởi tấm lòng, ông Toàn hăng hái ăn cơm nhà gánh chuyện người dưng. Lấy xã Lộc Lâm anh hùng làm điểm, ông khăn gói gió đưa, lặn lội vào từng căn chòi, lán, lều của đồng bào nơi nương rẫy mù xa, ân cần hỏi han chuyện hạt gạo, hạt muối, cái khố… của họ. Nghe người già than vãn rằng con nai, con hoẵng, đọt mây, măng giang… giờ khó kiếm quá, ông thủ thỉ: mình đốt rừng nhiều quá nên hết đất cho con thú ở, cho cây rau mọc, rồi con suối cũng cạn nước, con cá, con tôm cũng chết mất thôi. Đốt rừng làm rẫy mãi mà vẫn không đủ ăn; bà con xuống thung lũng lập làng đi, tôi mang cây lúa, cây rau, con bò, con lợn… về cho. Xuống làng ở vừa vui vừa no cái bụng. Gặp người nào ông cũng ân cần như thế nên chẳng mất chốc, người nọ chuyền tai người kia, đồng bào dần ưng cái bụng với chủ trương lập làng, định canh định cư mà Đảng và Nhà nước kêu gọi. Được dân tin, bỏ rừng về làng rồi, ông Toàn lại bảo K’Sen cho xây dựng những ngôi nhà tiêu biểu: có nhà cao cho bà con ở, có vườn trồng cây, có chuồng nuôi trâu, bò, lợn, gà. Dần dà, bà con các dân tộc Châu Mạ, K'Ho, Chu Ru… thuộc 11 buôn: Kơi Đạ, B’Ru, B’Riêng, R’Năng, R’Nua, B’Đạ, Kời Đăng, Sa Voa, Rín Đạ, Xavadăn, Tanca đã về quây tụ bên dòng suối Đạ Cơi để “trồng cây có phân, chăn nuôi có chuồng”. Về nhà, ông dẹp những dò lan, chậu thiên tuế, vạn tuế… sang một góp vườn để dành đất ươm cây cà phê, chè, mít, bơ…; bỏ tiền đi mua những hạt rau muống, rau cải, xúp lơ… gói ghém cẩn thận, chờ có số lượng kha khá là lại kỳ công mang vào buôn chia cho từng nhà và dạy họ cách trồng, chăm bón. Từ đận ấy, bà con toàn xã Lộc Lâm trọng K’Toàn như già làng…
Hiểu rằng của cho không bằng cách cho nên suốt 32 năm qua, sau những ngày bươn bả mưu sinh, thứ bảy, chủ nhật hàng tuần, Đỗ Văn Toàn lại đều đặn lặn lội vào buôn từ 6h sáng đến 9-10h đêm để thăm và tặng quà đồng bào dân tộc.
Ban đầu bằng xe đạp cọc cạch, đến chiếc Honda Dame, chiếc xe máy cổ lỗ sĩ Yamaha Town Mate và nay là chiếc môtô Rabel 250 kềnh càng, ông mải miết và hứng thú len lỏi đến các buôn vùng sâu vùng xa: Tân Rai, Đăk Cháy, Đam Ron, Lát, Bà Đạ, Xây Xàng v.v. khắp vùng Nam Tây Nguyên bát ngát. Hành trang cho riêng mình trong mỗi chuyến đi chỉ là dăm ba cái bánh lá, bánh mỳ, chai nước treo toòng teng phía trước xe để ăn dọc đường. Nhưng những thứ ông mang tặng đồng bào dân tộc thì thật lỉnh kỉnh: bánh kẹo, quần áo, lịch, đồng hồ, thuốc men, sách, bút... “Với nhiều người, chúng là đồ rẻ mạt, thứ bỏ đi nhưng đối với đồng bào nghèo thì rất quý. Mình trao tận tay họ càng quý hơn. Giống như đang cơn khát giữa rừng bỗng tìm được nguồn nước” - ông bảo.
Cho tôi xin đồ cũ
Đến làm thuê cho nhà ai, ông Toàn cũng tỉ tê xin đồ cũ. Có tiền công, ông trích một phần ra những hàng bán quần áo cũ ở chợ Bảo Lộc nhặt nhạnh mỗi thứ mỗi tí. Bạn bè, người thân thì thường xuyên nhận được những cuộc điện thoại của ông; sau những lời hỏi han ân cần, những câu chuyện đầm ấm là đến lời nhắn quen thuộc: “Nhà có đồ cũ, nhớ gọi tôi nhé!”. Tất cả những thứ người ta không dùng đến ấy, được ông nhặt nhạnh, mang về tập kết đầy nhà. Quần, áo, tất, khăn được ông giặt sạch, phơi khô rồi cuộn tròn như gói bánh tét, xếp gọn gàng vào những thùng carton; tranh, lịch, sách, vở, bút, bấm móng tay, gương, lược… thì dồn vào từng bao tải dựng ngay ngắn nơi góc phải cửa ra vào mà chờ dịp về buôn.
Lần nào cũng vậy, chuẩn bị cho mỗi chuyến đi tặng quà đồng bào, trong ông vẫn vẹn nguyên cảm giác lâng lâng. Vừa đóng hàng, ông vừa lẩm nhẩm: “Trái bóng này dành cho K’Diễm ở buôn Đăng Đừng”, “Ka Vân ở buôn Đạ Nua hỏi xin mãi mà bây giờ mình mới tìm được cái áo dài này cho cháu ra học trường huyện”, “Kră Jãn Tẹ ở xã Lát chắc thích đôi giày này lắm đây”… Vào buôn, phân phát quà cho từng người xong, ông lại tỷ mẩn cắt móng chân, móng tay cho những cụ già, trẻ nhỏ, đưa thang thuốc chữa băng huyết cho Ka Voal ở buôn Đạ Nua, thăm con gái K’Lu ở xóm Lộc Sơn - bệnh nhân bị rắn hổ cắn mà ông vừa chữa khỏi tuần trước, như cả trăm người bị rắn độc cắn đã bị bệnh viện trả về nhưng lại được K’Toàn cứu sống… Ông giảng giải: “Đối với đồng bào, quan trọng nhất là mình phải giữ chữ tín. Họ cần gì, lần sau mình vào phải có, đôi khi chỉ một tấm áo, đôi dép… nhưng hứa mà không có là bà con buồn, không tin nữa”. Chả thế mà có lần ông chia hết quà cho bà con trong buôn rồi, một phụ nữ mặc bộ quần áo tơ tướp mới tất tưởi bế con đến, xin đôi dép để đi cho ấm chân. Đồ đạc mang theo không còn thứ gì, nhưng không muốn làm chị thất vọng, ông không ngần ngại cởi chiếc áo ngoài, tuột ngay đôi dép mình đang đi mà tặng chị còn mình thì áo may ô, chân đất đầu trần đi về…
32 năm ròng, ai đếm được bao nhiêu thứ đồ, bao nhiêu tiền bạc, bao nhiêu kỳ công, tâm huyết của ông Toàn để lặng lẽ đổi lấy niềm vui nở trên khuôn mặt khắc khổ của những đồng bào nghèo.
Dày công và vô tư xây dựng niềm tin, trao tặng nụ cười ở khắp những nơi chốn đi qua như thế nên đến đâu, ông Toàn cũng được đồng bào quấn quýt, mừng rỡ như đón người thân lâu ngày gặp lại. Cả đời đằm mình trong buôn làng nên hồn cốt núi rừng, tộc người đã ngấm vào từng thớ thịt săn chắc trong ông; đến độ mà khi đóng vai già làng trong các bộ phim: Sương gió biên thùy, Trùng Quang tâm sử, Ngọn nến Hoàng cung, Thử thách xanh... các đạo diễn đều tấm tắc: cảnh của ông Toàn chưa phải quay lại bao giờ, ông vào vai ngọt hơn diễn viên chuyên nghiệp và vai diễn sống hơn cả người đồng bào.
…Chủ nhật tuần trước, dẫn tôi đi tặng quà đồng bào nghèo ở buôn Đạ Nua, đêm, tôi về đến TP.HCM cũng là lúc ông Toàn lên xe cấp cứu xuống bệnh viện Bình Dân để mổ sỏi bàng quang. Suốt mấy ngày nằm viện không người thân thích ở thành phố mà ông không ới tôi một tiếng vì “ngại làm phiền anh”. Ấy thế mà, về nhà nằm dưỡng bệnh mới được 2 ngày, ông đã điện thoại cho tôi thông báo rằng sức khỏe ổn rồi, kêu nhớ đồng bào quá và giục tôi gom ít đồ cũ rồi lên nhanh để ông đưa vào buôn. Ôi, K’Toàn, sức vóc và hồn cốt Tây Nguyên thấm đẫm trong người ông rồi!
Của cho không bằng cách cho
6h sáng. Trời giông gió, mây đen vần vũ. Chằng bốn bao tải đựng đầy quần áo, giày dép, sách bút… lên yên hai chiếc xe máy, chúng tôi băng 47km đường rừng vào buôn Đạ Nua - xã Lộc Lâm - huyện Bảo Lâm - tỉnh Lâm Đồng. Đường toàn đất bazan đỏ au, không quanh co liên hồi kỳ trận thì cũng bụi mù, xóc nảy, thế mà K’Toàn cứ phóng xe như bay làm tôi đuổi mướt mồ hôi vẫn không kịp. Thật nể cho sức vóc của ông lão; mới hôm qua, rong ruổi hơn 200km đi Hàm Thuận Bắc (Bình Thuận) từ 6h sáng, về giữa đường xe lại hỏng, phải dắt bộ suốt 5km đường rừng lầy lội trong mưa nên mãi hơn 10h đêm mới về đến nhà; bải hoải, rã rời, ấy vậy mà chỉ cần nghe tôi bảo muốn đi đồng bào là đã xăng xái lên đường. “Cứ nói đến chuyện vào buôn là tôi thấy người khỏe re. Xa mấy cũng đi được” - ông cười rổn rảng trấn an tôi.
Trèo đèo lội suối gần hai tiếng đồng hồ, chúng tôi mới vào đến điểm hẹn. Đạ Nua là buôn cuối cùng của xã vùng sâu vùng xa Lộc Lâm. Đồng bào dân tộc K’Ho nơi đây kiếm kế sinh nhai trên những thửa ruộng, mảnh vườn ít ỏi và những sản vật rừng mỗi ngày một khan hiếm nên đời sống rất khó khăn. Tụi trẻ lem luốc với những bộ quần áo bợt cả sợi vải, rách tứ tung, vá chằng vá đụp… đang ngồi bệt xuống những khoảnh sân đất trước nhà đùa nghịch chí chóe hay nặn đất, vê bùn. Từng tốp phụ nữ thì túm năm tụm ba tán chuyện rầm rì. Đám đàn ông, nhất là thanh niên trai tráng, thì tụ bạ ở mấy hiệu tạp hóa kiêm quán ăn sơ sài nằm ngay bên trục độc đạo lổn nhổn đá hộc và đất đỏ bazan mà nâng lên đặt xuống hết chén này đến chén khác suốt cả buổi dù thức nhắm chỉ là vài con cá khô, tô mì tôm, gói đậu phộng…
Hai chiếc xe máy lạ vừa rằn đá nảy tưng tưng vào đến đầu buôn, những tiếng ồ à, í ới đã rộn khắp nơi: “Ô, K’Toàn”, “K’Toàn về bà con ơi”… Chục phút sau, đàn ông, đàn bà, người già, trẻ con khắp buôn đã kéo về đứng ngồi lố nhố khắp trong nhà, ngoài sân nhà K’Hạnh nằm đối diện trạm Y tế. Chẳng kịp uống cho xong chén nước, chúng tôi đổ hết bốn bao tải quần áo, giày dép, sách, vở, bút, bánh kẹo, thuốc men, bột giặt… ra chiếc chiếu giữa nhà. Giũ tấm áo, manh quần, nhìn khắp lượt khuôn mặt, vóc dáng của những người xung quanh rồi ông Toàn ân cần: “Này, K’Lu, áo này vừa đấy”, “Ka Mây thử cái quần này đi”, “Ka Bung uống nốt liều thuốc này là hết đau đầu ngay”, “Vở, bút đây, K’Lim mang về đi học nhé”… để lĩnh xướng những tràng cười rộ lên vui vẻ của mọi người. Gần một giờ sau, đống đồ sạch bách, nghe bà con xuýt xoa, hể hả: “Ôi, nghiêm (đẹp, vừa)”, “Áo này ấm lắm”, “Quần thích quá”, “Kẹo ngọt thế” v.v., ông Toàn kéo vạt áo lau vội khuôn mặt, vầng trán đầm đìa mồ hôi, ngồi duỗi chân duỗi tay thở hổn hển trong nụ cười mãn nguyện.
Đừng chờ giàu mới làm từ thiện
Năm 1954, Đỗ Văn Toàn theo gia đình rời Kim Sơn - Ninh Bình vào Bảo Lộc - Lâm Đồng xây dựng vùng kinh tế mới để rồi như có duyên tiền định, con mèo rừng này gắn bó trọn đời với đại ngàn Tây Nguyên thâm u, kỳ bí và đầy mê hoặc.
Từ nhỏ, Toàn đã mang trong mình hai nửa tâm hồn trái ngược đến xung đột. Ai nghĩ được rằng cậu bé nghịch như quỷ ấy lại luôn để ý đến những vân vi của đời sống, lại luôn động lòng trắc ẩn trước những cảnh đời, phận người. Năm học lớp 6, thấy những bạn bè người dân tộc Châu Mạ luôn xanh rớt vì đói, áo quần mặc đến trường thì vá víu chằng chịt hoặc mỏng manh tê tái, Toàn thấy lòng quặn đau như chính mình đói rét. Tan học, cậu thường theo chân đám bạn nghèo ấy về buôn Con Hiên Đạ để làm bẫy chuột, làm ná bắn chim, đi hái rau rừng… Tận mắt chứng kiến cuộc sống thiếu cơm ăn áo mặc của đồng bào, nước mắt cứ rịn ra trên khuôn mặt láu lỉnh của Toàn. Cậu quyết định phải góp sức nhỏ bé của mình để giúp đỡ đồng bào. Tối tối, chờ cả nhà ngủ say, Toàn rón rén vào buồng lấy gạo, muối, cá khô, đậu phộng… trút vào những chiếc túi vải, gói ghém cẩn thận rồi dấu trong cặp sách. Ngày hôm sau, học xong, cậu theo chân các bạn về buôn rồi phân phát chiến lợi phẩm cho những nhà nghèo. Cứ tuần tự đêm về lấy của nhà, ngày mang ra chia sẻ như thế, số thực phẩm của Toàn tuy ít ỏi nhưng cũng đỡ được đôi phần cơn đói gạo, thèm muối… của nhiều gia đình nơi đây. Có điều, khi mang đồ ăn thức uống của nhà đi chia cho đồng bào, cậu vui bao nhiêu thì lúc về nhà lại thót tim bấy nhiêu. Mẹ thấy ché gạo, hũ muối, bịch cá khô… vơi nhanh đến lạ lùng nên cứ mặt ủ mày rầu. Thương lắm, nhưng mỗi khi mẹ hỏi, Toàn đều tỉnh queo, lặng thinh hoặc giả đò giả tảng đi lùng sục xem có con mèo, con chuột nào đào tường khoét vách, đột nhập vào buồng phá phách hay không…
Trái tim nhân hậu của Đỗ Văn Toàn không một phút nào ngơi nghĩ đến những người nghèo khổ quanh mình để bằng cách này hay cách khác, tìm cách giúp đỡ họ. Đó là một phần cuộc sống của con người dường như sinh ra để làm từ thiện này. Ước mơ lớn nhất của ông là cầu mong bề trên cho mình được mạnh khỏe, làm ăn tấn tới để có nhiều điều kiện vật chất để giúp đỡ người nghèo. Nhưng, làm đủ nghề từ làm vườn, nuôi heo, trồng cà phê đến hái chè, thợ điện v.v. mà ông Toàn cũng chỉ đủ tiền trang trải cuộc sống gia đình với mẹ già, vợ yếu cùng 5 đứa con thơ dại chứ chưa một lần được có cảm giác của một người dư dả. Đừng đợi giàu mới đi làm từ thiện. Ngộ ra điều ấy nên từ năm 1977, ông Toàn gắn thêm một nghề vào cuộc đời vốn dĩ đã không nề hà bất cứ nghề gì của mình, ấy là nghề từ thiện.
Ngày ấy, huyện Bảo Lộc phát động phong trào định canh, định cư trong vùng đồng bào dân tộc. Biết ông Toàn hay ăn dầm ở dề trong những cánh rừng thẳm để hái thuốc, lặn lội vào các buôn làng để sưu tầm và nghiên cứu văn hóa, ông Lâm Hồng Sơn (K’Sen) - Phó chủ tịch UBND huyện Bảo Lộc - đến rủ rỉ: “Ông có tài tổ chức, có uy tín với đồng bào nên huyện nhờ ông đi thuyết phục bà con định canh định cư nhé”. Được lời như cởi tấm lòng, ông Toàn hăng hái ăn cơm nhà gánh chuyện người dưng. Lấy xã Lộc Lâm anh hùng làm điểm, ông khăn gói gió đưa, lặn lội vào từng căn chòi, lán, lều của đồng bào nơi nương rẫy mù xa, ân cần hỏi han chuyện hạt gạo, hạt muối, cái khố… của họ. Nghe người già than vãn rằng con nai, con hoẵng, đọt mây, măng giang… giờ khó kiếm quá, ông thủ thỉ: mình đốt rừng nhiều quá nên hết đất cho con thú ở, cho cây rau mọc, rồi con suối cũng cạn nước, con cá, con tôm cũng chết mất thôi. Đốt rừng làm rẫy mãi mà vẫn không đủ ăn; bà con xuống thung lũng lập làng đi, tôi mang cây lúa, cây rau, con bò, con lợn… về cho. Xuống làng ở vừa vui vừa no cái bụng. Gặp người nào ông cũng ân cần như thế nên chẳng mất chốc, người nọ chuyền tai người kia, đồng bào dần ưng cái bụng với chủ trương lập làng, định canh định cư mà Đảng và Nhà nước kêu gọi. Được dân tin, bỏ rừng về làng rồi, ông Toàn lại bảo K’Sen cho xây dựng những ngôi nhà tiêu biểu: có nhà cao cho bà con ở, có vườn trồng cây, có chuồng nuôi trâu, bò, lợn, gà. Dần dà, bà con các dân tộc Châu Mạ, K'Ho, Chu Ru… thuộc 11 buôn: Kơi Đạ, B’Ru, B’Riêng, R’Năng, R’Nua, B’Đạ, Kời Đăng, Sa Voa, Rín Đạ, Xavadăn, Tanca đã về quây tụ bên dòng suối Đạ Cơi để “trồng cây có phân, chăn nuôi có chuồng”. Về nhà, ông dẹp những dò lan, chậu thiên tuế, vạn tuế… sang một góp vườn để dành đất ươm cây cà phê, chè, mít, bơ…; bỏ tiền đi mua những hạt rau muống, rau cải, xúp lơ… gói ghém cẩn thận, chờ có số lượng kha khá là lại kỳ công mang vào buôn chia cho từng nhà và dạy họ cách trồng, chăm bón. Từ đận ấy, bà con toàn xã Lộc Lâm trọng K’Toàn như già làng…
Hiểu rằng của cho không bằng cách cho nên suốt 32 năm qua, sau những ngày bươn bả mưu sinh, thứ bảy, chủ nhật hàng tuần, Đỗ Văn Toàn lại đều đặn lặn lội vào buôn từ 6h sáng đến 9-10h đêm để thăm và tặng quà đồng bào dân tộc.
Ban đầu bằng xe đạp cọc cạch, đến chiếc Honda Dame, chiếc xe máy cổ lỗ sĩ Yamaha Town Mate và nay là chiếc môtô Rabel 250 kềnh càng, ông mải miết và hứng thú len lỏi đến các buôn vùng sâu vùng xa: Tân Rai, Đăk Cháy, Đam Ron, Lát, Bà Đạ, Xây Xàng v.v. khắp vùng Nam Tây Nguyên bát ngát. Hành trang cho riêng mình trong mỗi chuyến đi chỉ là dăm ba cái bánh lá, bánh mỳ, chai nước treo toòng teng phía trước xe để ăn dọc đường. Nhưng những thứ ông mang tặng đồng bào dân tộc thì thật lỉnh kỉnh: bánh kẹo, quần áo, lịch, đồng hồ, thuốc men, sách, bút... “Với nhiều người, chúng là đồ rẻ mạt, thứ bỏ đi nhưng đối với đồng bào nghèo thì rất quý. Mình trao tận tay họ càng quý hơn. Giống như đang cơn khát giữa rừng bỗng tìm được nguồn nước” - ông bảo.
Cho tôi xin đồ cũ
Đến làm thuê cho nhà ai, ông Toàn cũng tỉ tê xin đồ cũ. Có tiền công, ông trích một phần ra những hàng bán quần áo cũ ở chợ Bảo Lộc nhặt nhạnh mỗi thứ mỗi tí. Bạn bè, người thân thì thường xuyên nhận được những cuộc điện thoại của ông; sau những lời hỏi han ân cần, những câu chuyện đầm ấm là đến lời nhắn quen thuộc: “Nhà có đồ cũ, nhớ gọi tôi nhé!”. Tất cả những thứ người ta không dùng đến ấy, được ông nhặt nhạnh, mang về tập kết đầy nhà. Quần, áo, tất, khăn được ông giặt sạch, phơi khô rồi cuộn tròn như gói bánh tét, xếp gọn gàng vào những thùng carton; tranh, lịch, sách, vở, bút, bấm móng tay, gương, lược… thì dồn vào từng bao tải dựng ngay ngắn nơi góc phải cửa ra vào mà chờ dịp về buôn.
Lần nào cũng vậy, chuẩn bị cho mỗi chuyến đi tặng quà đồng bào, trong ông vẫn vẹn nguyên cảm giác lâng lâng. Vừa đóng hàng, ông vừa lẩm nhẩm: “Trái bóng này dành cho K’Diễm ở buôn Đăng Đừng”, “Ka Vân ở buôn Đạ Nua hỏi xin mãi mà bây giờ mình mới tìm được cái áo dài này cho cháu ra học trường huyện”, “Kră Jãn Tẹ ở xã Lát chắc thích đôi giày này lắm đây”… Vào buôn, phân phát quà cho từng người xong, ông lại tỷ mẩn cắt móng chân, móng tay cho những cụ già, trẻ nhỏ, đưa thang thuốc chữa băng huyết cho Ka Voal ở buôn Đạ Nua, thăm con gái K’Lu ở xóm Lộc Sơn - bệnh nhân bị rắn hổ cắn mà ông vừa chữa khỏi tuần trước, như cả trăm người bị rắn độc cắn đã bị bệnh viện trả về nhưng lại được K’Toàn cứu sống… Ông giảng giải: “Đối với đồng bào, quan trọng nhất là mình phải giữ chữ tín. Họ cần gì, lần sau mình vào phải có, đôi khi chỉ một tấm áo, đôi dép… nhưng hứa mà không có là bà con buồn, không tin nữa”. Chả thế mà có lần ông chia hết quà cho bà con trong buôn rồi, một phụ nữ mặc bộ quần áo tơ tướp mới tất tưởi bế con đến, xin đôi dép để đi cho ấm chân. Đồ đạc mang theo không còn thứ gì, nhưng không muốn làm chị thất vọng, ông không ngần ngại cởi chiếc áo ngoài, tuột ngay đôi dép mình đang đi mà tặng chị còn mình thì áo may ô, chân đất đầu trần đi về…
32 năm ròng, ai đếm được bao nhiêu thứ đồ, bao nhiêu tiền bạc, bao nhiêu kỳ công, tâm huyết của ông Toàn để lặng lẽ đổi lấy niềm vui nở trên khuôn mặt khắc khổ của những đồng bào nghèo.
Dày công và vô tư xây dựng niềm tin, trao tặng nụ cười ở khắp những nơi chốn đi qua như thế nên đến đâu, ông Toàn cũng được đồng bào quấn quýt, mừng rỡ như đón người thân lâu ngày gặp lại. Cả đời đằm mình trong buôn làng nên hồn cốt núi rừng, tộc người đã ngấm vào từng thớ thịt săn chắc trong ông; đến độ mà khi đóng vai già làng trong các bộ phim: Sương gió biên thùy, Trùng Quang tâm sử, Ngọn nến Hoàng cung, Thử thách xanh... các đạo diễn đều tấm tắc: cảnh của ông Toàn chưa phải quay lại bao giờ, ông vào vai ngọt hơn diễn viên chuyên nghiệp và vai diễn sống hơn cả người đồng bào.
…Chủ nhật tuần trước, dẫn tôi đi tặng quà đồng bào nghèo ở buôn Đạ Nua, đêm, tôi về đến TP.HCM cũng là lúc ông Toàn lên xe cấp cứu xuống bệnh viện Bình Dân để mổ sỏi bàng quang. Suốt mấy ngày nằm viện không người thân thích ở thành phố mà ông không ới tôi một tiếng vì “ngại làm phiền anh”. Ấy thế mà, về nhà nằm dưỡng bệnh mới được 2 ngày, ông đã điện thoại cho tôi thông báo rằng sức khỏe ổn rồi, kêu nhớ đồng bào quá và giục tôi gom ít đồ cũ rồi lên nhanh để ông đưa vào buôn. Ôi, K’Toàn, sức vóc và hồn cốt Tây Nguyên thấm đẫm trong người ông rồi!
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)