Chủ Nhật, 8 tháng 8, 2010
Ngôi nhà xưa bên suối
Ngồi đếm giọt cà phê nhỏ tí tách xuống cái tách gốm đặt trên mặt bàn ở nhà hàng nằm bên bến đá cây Tung (VQG Cát Tiên), nghe tiếng suối reo, thao thiết nhớ ngôi nhà xưa bên suối ở Tân Lạc, Hòa Bình. Bao giờ lại được về ngủ trong cái chòi canh nương mà nghe thác đổ, mắt dõi theo những ánh đom đóm lập lòe!...
Thứ Hai, 5 tháng 7, 2010
Ta là một, là riêng, là...
Buổi giao lưu với Eran Katz, người đang giữ kỷ lục Guinness về khả năng nhớ được một dãy 500 chữ số chỉ sau một lần nghe, lẫn trong rất nhiều lời trầm trồ thán phục của đông đảo công chúng thuộc nhiều thành phần, lứa tuổi về người có trí nhớ siêu phàm, vẫn có những hành động khinh khi.
Sau khi chứng kiến người đàn ông Do Thái trổ tài chỉ nghe một lần rồi đọc lại tất cả những dãy số mà khán giả yêu cầu, một bác đứng tuổi ngồi ngay hàng ghế đầu hùng dũng giơ tay, đứng phắt dậy. Mặt đằng đằng sát khí, chưa để cho nụ cười ruồi tắt hẳn, bác đã gằn từng tiếng rằng trí nhớ của ông thế thì có gì ghê gớm đâu. Nhà bác học Lê Quý Đôn của chúng tôi sống ở thế kỷ XVIII mới gọi là có trí nhớ siêu phàm. Bởi có bận ông từng đọc qua tấm bia đá một lần rồi đọc ngược lại không sai một chữ.
Hình như bác nhầm thì phải, giai thoại về trí nhớ của Lê Quý Đôn là chuyện này:
Một buổi trưa nắng, lũy tre xanh xạc xào trong gió. Bên dòng sông xanh biếc, có một quán nhỏ nằm dưới gốc đa, chủ nhân là một bà lão đang ngồi bỏm bẻm nhai trầu. Khách là một thư sinh ngoài hai mươi tuổi, có lẽ từ xa đến. Bước vào quán, trong khi đợi cơm, chàng với tay lấy quyển sổ đang treo trên vách xuống xem. Thì ra đó là quyển sổ ghi nợ. Khách vừa đọc xong cũng là lúc cơm được dọn lên. Ăn xong, chàng đi ngay. Buổi chiều, quay về đường cũ, chàng thấy quán đã cháy rụi. Bà lão bán quán đang ngồi khóc tỉ ti, khách tới an ủi, thì bà mếu máo nói:
- Quyển sổ nợ cháy mất rồi. Giờ tôi chả còn nhớ ai nợ bao nhiêu mà đòi nữa!
Khách cười rồi điềm tĩnh lấy giấy bút trong tay nải ra biên lại tên từng người, từng món nợ, trao cho bà lão đáng thương rồi tiếp tục hành trình rong ruổi. Bà lão nửa tin nửa ngờ đi đòi thì quả nhiên không sai, không sót một ai.
Người khách lạ đó chính là thần đồng Lê Quý Đôn, sinh năm 1726, người làng Phú Hiếu, huyện Diên Hà (nay thuộc xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình), con trai của tiến sĩ Lê Phú Thứ. Cậu bế nổi tiếng thần đồng, 2 tuổi đã biết viết chữ “hữu” (có) và chữ “vô” (không), 5 tuổi đã đọc được nhiều bài trong Kinh Thi, 11 tuổi đọc Kinh Dịch, 14 tuổi thì đọc hết Tứ Thư, Ngũ Kinh… Điều đáng nhớ và học tập ở ông là một sức làm việc không mệt mỏi, ông đã “học, học nữa, học mãi” để trở thành nhà bác học lẫy lừng ở thế kỷ XVIII. Trong sách Kiến văn tiểu lục, ông viết: “Tôi vốn là người nông cạn, lúc còn bé thích chứa sách, lúc trưởng thành ra làm quan, xem lại sách đã chứa trong tủ, vâng theo lời dạy của cha, lại được giao du nhiều với các bậc hiền sĩ đại phu… Thêm vào đấy, phụng mệnh làm việc công, bốn phương rong ruổi: mặt bắc đi sang sứ Trung Quốc, mặt tây bình định Trấn Ninh, mặt nam trấn thủ Thuận Quảng (Thuận Hóa - Quảng Nam). Đi tới đâu cũng để ý tìm tòi, làm việc gì mắt thấy tai nghe cũng đều dùng bút ghi chép, lại phụ thêm lời bình luận sơ qua, giao cho tiểu đồng đựng vào túi sách...”.
Eran Katz tiết lộ bí quyết gợi sự liên tưởng để rèn luyện trí nhớ, chẳng hạn cái máy cắt cỏ kêu những tiếng gằn gằn lúc hoạt động, gợi ý cho ta từ green (màu xanh), cỏ đang được cắt cũng là màu xanh, thế nên nghe tiếng gằn của máy cắt cỏ là ta nhớ ngay đến màu xanh, đến cỏ, đến máy cắt cỏ… Trong khi cả hội trường vang lên những tràng pháo tay và tiếng cười thú vị về kiểu vừa học tiếng Anh vừa rèn trí nhớ độc đáo ấy, bác già lúc nãy lại đứng phắt lên bắt bẻ. Bác bảo Eran Katz rằng ông nói tiếng Anh là ngôn ngữ quốc tế và khuyến cáo mọi người cần thông thạo là không đúng, vị trí ấy là của tiếng Hoa; và rằng, phương pháp liên tưởng của ông chỉ đúng trong tiếng Anh, ông có cách gì áp dụng cho tiếng Việt? Eran Katz phì cười đáp: cả đời tôi nói tiếng Anh nên tôi chỉ nghĩ ra cách áp dụng với tiếng Anh thôi…
Cũng may là đông đảo chủ, khách của buổi giao lưu không ai bận tâm cật vấn bác già chuyện đúng sai của giai thoại mà bác dẫn nhằm hạ bệ vị khách lạ đến từ Israel. Cũng may là người của ban tổ chức đã nhanh trí tuyên bố rằng đây chỉ là một trong những cách rèn luyện trí nhớ và Eran Katz cũng rất nhã nhặn nói rằng tôi sang đây để giao lưu, giới thiệu cuốn sách rèn luyện trí nhớ theo kinh nghiệm bản thân chứ không khẳng định chỉ có cách của tôi mới ưu việt… Ấy thế mà suốt buổi giao lưu, bác già và mấy người bạn của mình cũng vẫn cứ hậm hà hậm hực.
Thật khổ thân cho cái tâm lý thích bắt bẻ của bác già. Cứ cho là trong mắt bác chỉ có cụ Lê Quý Đôn mới xứng đáng gọi là có trí nhớ thiên tài, nhưng cụ đã mất từ năm 1783 rồi, giờ có muốn bác cũng chẳng gặp được. Trong khi ấy, trước mặt bác là một người bằng xương bằng thịt, đã được sách kỷ lục Guinness công nhận, sách hướng dẫn rèn luyện trí nhớ của ông đã được dịch ra 10 thứ tiếng và bán chạy nhất thế giới, với cả triệu bản. Và cũng chẳng phải dễ dàng gì, ban tổ chức mới mời được ông ấy cất công sang Việt Nam giao lưu với độc giả nhân dịp hai cuốn sách: Bí mật của một trí nhớ siêu phàm và Trí tuệ Do Thái được xuất bản bằng tiếng Việt. Sao bác không hồ hởi sờ nắn vào người ông, hỏi bí quyết rèn luyện trí nhớ để tập luyện đặng ôm mộng vượt mặt ông ấy mà cứ nhăm nhăm hạ bệ bằng việc mang cái người từ thuở nảo thuở nào ra mà hù dọa.
Đâu phải riêng bác già kể trên, hình như rất nhiều người dân Việt Nam mình có cái tâm lý tự đóng cửa cõi lòng như thế.
Đi du lịch là để khám phá cảnh khác người lạ vậy mà đến đâu cũng soi mói, rồi tặc lưỡi: “Thường thôi, có gì ghê gớm đâu”. Đến bữa thì chả dám thử món gì lạ, lại ăn uống những thứ quen thuộc hàng ngày. Người thử rồi thì chê ỏng chê eo, món này gì mà ngọt thế, món kia sao mà cay vậy, phí cả tiền. Thế nên thay vì mê say đi tìm điều hay, kết bạn với những người thú vị, các ông bà biết rồi nhà ta chỉ túm tụm nhậu nhẹt, bài bạc, ôn nghèo kể khổ, thương nhớ đồng quê. Kết quả của những chuyến du lịch ấy chỉ là ít đồ sấp ngửa sắm được, xấp ảnh đứng chường mặt trước danh lam thắng cảnh, di tích, xòng bạc… ở xứ người kiểu “Lão Tôn đã từng đến đây”. Đấy, cứ thế thì cả đời cũng chỉ biết có mỗi cái ngưỡng cửa nhà mình. Tích tiểu thành đại, mỗi ngày cứ co rúm mình vào một tí như thế thì trách sao không tụt hậu!
Có một chuyện nhỏ diễn ra đã dăm năm rồi nhưng vẫn làm tôi mỉm cười mỗi khi nhớ lại. Lần ấy, một người bạn tôi từ Pháp sang. Theo bản năng, đến bữa, tôi dẫn anh tới một nhà hàng Pháp thuộc loại sang ở TPHCM. Tưởng anh sẽ vui lắm khi có một người bạn Việt Nam chiều chuộng mình, đến một nơi xa lạ mà vẫn được sống trong không khí quê nhà. Ai dè, anh chối đây đẩy rồi nằng nặc đòi tôi dẫn đến một quán vỉa hè. Và chúng tôi đã ngồi bên hồ Con Rùa uống bia Sài Gòn xanh, ăn bò bía và tán chuyện hăng say về vùng đất của tôi. Anh bảo đó mới là điều thích thú, “chứ sang đây mà vẫn ăn đồ Pháp, nói chuyện nước Pháp thì tôi ở nhà cho xong”.
Nói chuyện ăn uống thì lại nhớ đến anh Khúc Duy Tiến, người đã dạy tôi kiểu ẩm thực "địa phương tính". Bảy năm trước, vợ chồng anh ra Hà Nội hưởng tuần trăng mật, tôi đưa hai người lên quán Phương Uyên uống bia và ngắm sóng hồ Tây. Vào bàn, vừa thấy tôi gọi bia Heineken, anh giãy nảy: “uống bia Hà Nội chứ, ra đây mà uống "Ken" thì tao ở Đà Nẵng cho xong”. Rồi vừa nhâm nhi cốc bia, anh vừa rủ rỉ: "Đi đâu thì nên uống bia đấy, ăn đồ ăn ở đấy cho biết hương vị". Tôi theo gu ẩm thực của anh từ đận ấy…
Người đi ra khỏi cổng làng được một bước thì về cái gì cũng so sánh, dè bỉu rằng quê mình là hủ lậu, chỉ có thiên hạ mới hay, mới đẹp. Người thì chả coi ai ra gì, chỉ có ta là nhất quả đất. Trường hợp đầu, mà các cụ nhạo là “c. Tây cũng vuông” thì cả đời đuổi hình bắt bóng của thiên hạ. Trường hợp sau, kiểu ta là đỉnh cao muôn trượng, thì mạt kiếp đứng yên một chỗ chả biết thiên hạ lên hành tinh khác từ đời nảo đời nào. Thế phải làm sao? Biết mình biết người, cổ nhân chả vẫn bảo thế là gì.
Sau khi chứng kiến người đàn ông Do Thái trổ tài chỉ nghe một lần rồi đọc lại tất cả những dãy số mà khán giả yêu cầu, một bác đứng tuổi ngồi ngay hàng ghế đầu hùng dũng giơ tay, đứng phắt dậy. Mặt đằng đằng sát khí, chưa để cho nụ cười ruồi tắt hẳn, bác đã gằn từng tiếng rằng trí nhớ của ông thế thì có gì ghê gớm đâu. Nhà bác học Lê Quý Đôn của chúng tôi sống ở thế kỷ XVIII mới gọi là có trí nhớ siêu phàm. Bởi có bận ông từng đọc qua tấm bia đá một lần rồi đọc ngược lại không sai một chữ.
Hình như bác nhầm thì phải, giai thoại về trí nhớ của Lê Quý Đôn là chuyện này:
Một buổi trưa nắng, lũy tre xanh xạc xào trong gió. Bên dòng sông xanh biếc, có một quán nhỏ nằm dưới gốc đa, chủ nhân là một bà lão đang ngồi bỏm bẻm nhai trầu. Khách là một thư sinh ngoài hai mươi tuổi, có lẽ từ xa đến. Bước vào quán, trong khi đợi cơm, chàng với tay lấy quyển sổ đang treo trên vách xuống xem. Thì ra đó là quyển sổ ghi nợ. Khách vừa đọc xong cũng là lúc cơm được dọn lên. Ăn xong, chàng đi ngay. Buổi chiều, quay về đường cũ, chàng thấy quán đã cháy rụi. Bà lão bán quán đang ngồi khóc tỉ ti, khách tới an ủi, thì bà mếu máo nói:
- Quyển sổ nợ cháy mất rồi. Giờ tôi chả còn nhớ ai nợ bao nhiêu mà đòi nữa!
Khách cười rồi điềm tĩnh lấy giấy bút trong tay nải ra biên lại tên từng người, từng món nợ, trao cho bà lão đáng thương rồi tiếp tục hành trình rong ruổi. Bà lão nửa tin nửa ngờ đi đòi thì quả nhiên không sai, không sót một ai.
Người khách lạ đó chính là thần đồng Lê Quý Đôn, sinh năm 1726, người làng Phú Hiếu, huyện Diên Hà (nay thuộc xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình), con trai của tiến sĩ Lê Phú Thứ. Cậu bế nổi tiếng thần đồng, 2 tuổi đã biết viết chữ “hữu” (có) và chữ “vô” (không), 5 tuổi đã đọc được nhiều bài trong Kinh Thi, 11 tuổi đọc Kinh Dịch, 14 tuổi thì đọc hết Tứ Thư, Ngũ Kinh… Điều đáng nhớ và học tập ở ông là một sức làm việc không mệt mỏi, ông đã “học, học nữa, học mãi” để trở thành nhà bác học lẫy lừng ở thế kỷ XVIII. Trong sách Kiến văn tiểu lục, ông viết: “Tôi vốn là người nông cạn, lúc còn bé thích chứa sách, lúc trưởng thành ra làm quan, xem lại sách đã chứa trong tủ, vâng theo lời dạy của cha, lại được giao du nhiều với các bậc hiền sĩ đại phu… Thêm vào đấy, phụng mệnh làm việc công, bốn phương rong ruổi: mặt bắc đi sang sứ Trung Quốc, mặt tây bình định Trấn Ninh, mặt nam trấn thủ Thuận Quảng (Thuận Hóa - Quảng Nam). Đi tới đâu cũng để ý tìm tòi, làm việc gì mắt thấy tai nghe cũng đều dùng bút ghi chép, lại phụ thêm lời bình luận sơ qua, giao cho tiểu đồng đựng vào túi sách...”.
Eran Katz tiết lộ bí quyết gợi sự liên tưởng để rèn luyện trí nhớ, chẳng hạn cái máy cắt cỏ kêu những tiếng gằn gằn lúc hoạt động, gợi ý cho ta từ green (màu xanh), cỏ đang được cắt cũng là màu xanh, thế nên nghe tiếng gằn của máy cắt cỏ là ta nhớ ngay đến màu xanh, đến cỏ, đến máy cắt cỏ… Trong khi cả hội trường vang lên những tràng pháo tay và tiếng cười thú vị về kiểu vừa học tiếng Anh vừa rèn trí nhớ độc đáo ấy, bác già lúc nãy lại đứng phắt lên bắt bẻ. Bác bảo Eran Katz rằng ông nói tiếng Anh là ngôn ngữ quốc tế và khuyến cáo mọi người cần thông thạo là không đúng, vị trí ấy là của tiếng Hoa; và rằng, phương pháp liên tưởng của ông chỉ đúng trong tiếng Anh, ông có cách gì áp dụng cho tiếng Việt? Eran Katz phì cười đáp: cả đời tôi nói tiếng Anh nên tôi chỉ nghĩ ra cách áp dụng với tiếng Anh thôi…
Cũng may là đông đảo chủ, khách của buổi giao lưu không ai bận tâm cật vấn bác già chuyện đúng sai của giai thoại mà bác dẫn nhằm hạ bệ vị khách lạ đến từ Israel. Cũng may là người của ban tổ chức đã nhanh trí tuyên bố rằng đây chỉ là một trong những cách rèn luyện trí nhớ và Eran Katz cũng rất nhã nhặn nói rằng tôi sang đây để giao lưu, giới thiệu cuốn sách rèn luyện trí nhớ theo kinh nghiệm bản thân chứ không khẳng định chỉ có cách của tôi mới ưu việt… Ấy thế mà suốt buổi giao lưu, bác già và mấy người bạn của mình cũng vẫn cứ hậm hà hậm hực.
Thật khổ thân cho cái tâm lý thích bắt bẻ của bác già. Cứ cho là trong mắt bác chỉ có cụ Lê Quý Đôn mới xứng đáng gọi là có trí nhớ thiên tài, nhưng cụ đã mất từ năm 1783 rồi, giờ có muốn bác cũng chẳng gặp được. Trong khi ấy, trước mặt bác là một người bằng xương bằng thịt, đã được sách kỷ lục Guinness công nhận, sách hướng dẫn rèn luyện trí nhớ của ông đã được dịch ra 10 thứ tiếng và bán chạy nhất thế giới, với cả triệu bản. Và cũng chẳng phải dễ dàng gì, ban tổ chức mới mời được ông ấy cất công sang Việt Nam giao lưu với độc giả nhân dịp hai cuốn sách: Bí mật của một trí nhớ siêu phàm và Trí tuệ Do Thái được xuất bản bằng tiếng Việt. Sao bác không hồ hởi sờ nắn vào người ông, hỏi bí quyết rèn luyện trí nhớ để tập luyện đặng ôm mộng vượt mặt ông ấy mà cứ nhăm nhăm hạ bệ bằng việc mang cái người từ thuở nảo thuở nào ra mà hù dọa.
Đâu phải riêng bác già kể trên, hình như rất nhiều người dân Việt Nam mình có cái tâm lý tự đóng cửa cõi lòng như thế.
Đi du lịch là để khám phá cảnh khác người lạ vậy mà đến đâu cũng soi mói, rồi tặc lưỡi: “Thường thôi, có gì ghê gớm đâu”. Đến bữa thì chả dám thử món gì lạ, lại ăn uống những thứ quen thuộc hàng ngày. Người thử rồi thì chê ỏng chê eo, món này gì mà ngọt thế, món kia sao mà cay vậy, phí cả tiền. Thế nên thay vì mê say đi tìm điều hay, kết bạn với những người thú vị, các ông bà biết rồi nhà ta chỉ túm tụm nhậu nhẹt, bài bạc, ôn nghèo kể khổ, thương nhớ đồng quê. Kết quả của những chuyến du lịch ấy chỉ là ít đồ sấp ngửa sắm được, xấp ảnh đứng chường mặt trước danh lam thắng cảnh, di tích, xòng bạc… ở xứ người kiểu “Lão Tôn đã từng đến đây”. Đấy, cứ thế thì cả đời cũng chỉ biết có mỗi cái ngưỡng cửa nhà mình. Tích tiểu thành đại, mỗi ngày cứ co rúm mình vào một tí như thế thì trách sao không tụt hậu!
Có một chuyện nhỏ diễn ra đã dăm năm rồi nhưng vẫn làm tôi mỉm cười mỗi khi nhớ lại. Lần ấy, một người bạn tôi từ Pháp sang. Theo bản năng, đến bữa, tôi dẫn anh tới một nhà hàng Pháp thuộc loại sang ở TPHCM. Tưởng anh sẽ vui lắm khi có một người bạn Việt Nam chiều chuộng mình, đến một nơi xa lạ mà vẫn được sống trong không khí quê nhà. Ai dè, anh chối đây đẩy rồi nằng nặc đòi tôi dẫn đến một quán vỉa hè. Và chúng tôi đã ngồi bên hồ Con Rùa uống bia Sài Gòn xanh, ăn bò bía và tán chuyện hăng say về vùng đất của tôi. Anh bảo đó mới là điều thích thú, “chứ sang đây mà vẫn ăn đồ Pháp, nói chuyện nước Pháp thì tôi ở nhà cho xong”.
Nói chuyện ăn uống thì lại nhớ đến anh Khúc Duy Tiến, người đã dạy tôi kiểu ẩm thực "địa phương tính". Bảy năm trước, vợ chồng anh ra Hà Nội hưởng tuần trăng mật, tôi đưa hai người lên quán Phương Uyên uống bia và ngắm sóng hồ Tây. Vào bàn, vừa thấy tôi gọi bia Heineken, anh giãy nảy: “uống bia Hà Nội chứ, ra đây mà uống "Ken" thì tao ở Đà Nẵng cho xong”. Rồi vừa nhâm nhi cốc bia, anh vừa rủ rỉ: "Đi đâu thì nên uống bia đấy, ăn đồ ăn ở đấy cho biết hương vị". Tôi theo gu ẩm thực của anh từ đận ấy…
Người đi ra khỏi cổng làng được một bước thì về cái gì cũng so sánh, dè bỉu rằng quê mình là hủ lậu, chỉ có thiên hạ mới hay, mới đẹp. Người thì chả coi ai ra gì, chỉ có ta là nhất quả đất. Trường hợp đầu, mà các cụ nhạo là “c. Tây cũng vuông” thì cả đời đuổi hình bắt bóng của thiên hạ. Trường hợp sau, kiểu ta là đỉnh cao muôn trượng, thì mạt kiếp đứng yên một chỗ chả biết thiên hạ lên hành tinh khác từ đời nảo đời nào. Thế phải làm sao? Biết mình biết người, cổ nhân chả vẫn bảo thế là gì.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)